- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HS-ST Ngày 01-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiển
Bà Nguyễn Thị Hồng Nguyên
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên
Ngày 01tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HS ngày 22/7/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quang T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm: 1989 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Phạm Quang S, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị T, đã ly hôn; chưa có con. Tiền sự: Không.
Tiền án: có 01 tiền án:
Tại bản án số 18/2017/HS-ST ngày 04/7/2017 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Phạm Quang T 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2019 đến ngày 04/4/2019 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/3/2019 bị cáo Phạm Quang T đang đi bộ trên đường quốc lộ 32, thuộc khu 15, thị trấn Tân Uyên thì gặp một người đàn ông tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) mà T quen biết khi đi chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Lai Châu. Khi gặp nhau, T hỏi D “có ma túy đá không, cho xin một ít”, D trả lời “có”. Sau đó, D lấy cho T một gói ma túy đá (methamphetamine) đựng trong đoạn ống nhựa màu tím (dạng ống hút). Sau khi xin được ma túy đá, T mang về nhà cất giấu gói ma túy đá ở ngăn tủ gỗ đựng quần áo trong phòng ngủ của T. Đến sáng ngày 26/3/2019, T lấy gói ma túy đá ra trích một ít để sử dụng, số còn lại T gói và cất giâú vào chỗ cũ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Công an huyện Tân Uyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân phản ánh tại nhà ông Phạm Quang S bố đẻ của Phạm Quang T có nhiều biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy đá đựng trong đoạn ống nhựa màu tím, dán kín hai đầu có tổng khối lượng là 0,31gam.
Tại biên bản niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng xác định: khối lượng một gói chất tinh thể màu trắng bên ngoài được gói bằng đoạn ống nhựa màu tím thu giữ của Phạm Quang T có khối lượng là 0,31gam.
Tại bản kết luận giám định số 164/GĐ - KTHS ngày 31 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu vật thu giữ của Phạm Quang T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 24/CT - VKS ngày 27/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Phạm Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Quang T từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Quang T không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 26/3/2019 tại khu 15, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bị cáo Phạm Quang T có hành vi tàng trữ trái phép 0,31gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự giác giao nộp toàn bộ số methamphethamine cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên khi đang khám xét.
Bị cáo Phạm Quang T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ 0,31 gam Methaphetamine. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Quang T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…
c, Heroin, Cocaine, Methamphetamine,...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, được cha mẹ nuôi ăn học đến lớp 9/12, sau đó bỏ học ở nhà cùng bố mẹ tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 18/2017/HSST ngày 04/7/2017 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Phạm Quang T 12 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục răn đe, giáo dục,cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do nguồn thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xét thấy 01 đoạn ống nhựa màu tím (dạng ống hút) là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề liên quan:
Theo lời khai của bị cáo, người đàn ông tên D là người cho bị cáo ma túy nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên Hội đồng xét xử chưa đủ cơ sở để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 23 (Hai mươi ba) tháng 21(Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy một đoạn ống nhựa màu tím (dạng ống hút).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ15 phút ngày 25/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Dương Thị Tuyết Thanh |