- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HS-ST Ngày 31-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Cư và bà Huỳnh Thị Thùy Trâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ tham gia phiên tòa: Bà Lý Tường Vy– kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh H – sinh ngày 22/3/1996 tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam
Nơi cư trú: T 11, khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn R, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình tại t 11, khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam đi học. Ngày 27/6/2019, bị cáo Nguyễn Minh H có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên ngày 12/8/2019 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ giai đoạn điều tra cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Huỳnh Thị L – sinh năm 1992. Chết
Người đại diện hợp pháp cho bị hại có: Ông Huỳnh Bá C – sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1957, là cha mẹ của bị hại
Cùng nơi cư trú: T 28, phường H, quận N, thành phố Đ. Ông C, bà T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Thành V - sinh năm 1985. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định
- Ông Thân Trọng Quốc Đ– sinh năm 1983. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định
4. Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1997. Vắng mặt
Nơi cư trú: KA H, quận H, thành phố Đà Nẵng
- Chị Trần Thị Hà G – sinh năm 1995. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Nam
- Anh Trần Xuân T3 – sinh năm 1995.Vắng mặt
Nơi cư trú: Xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 27/6/2019 bị cáo Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô BKS: 92C1-226.23 chở phía sau chị Huỳnh Thị L lưu thông theo hướng Nam – Bắc, tốc độ khoảng 50km/h. Khi đến đoạn đường Quốc lộ IA thuộc thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo điều khiển xe mô tô vượt bên phải xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27 do Thân Trọng Quốc Đ điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Trong quá trình vượt xe, phát hiện phía trước là hành lang phía Đông của cầu S, vì sợ tông vào hành lang nên bị cáo Nguyễn Minh H thắng gấp, làm cho xe mô tô BKS: 92C1-226.23 cùng bị cáo và chị Huỳnh Thị L nghiêng qua trái trượt ngã xuống đường. Hậu quả: chị Huỳnh Thị L bị xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27 cán trúng vùng đầu chết tại chỗ.
Theo Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 38/HP ngày 10/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi: Kết luận trong máu của Nguyễn Minh H thu giữ vào ngày 27/6/2019 có Ethanol: 5,6mg/100ml (dưới mức quy định).
Theo Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 39/HP ngày 13/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi: Kết luận trong máu của Thân Trọng Quốc Đ thu giữ vào ngày 27/6/2019 có Ethanol: 04mg/100ml (dưới mức quy định).
Theo Kết luận giám định số 585/KLGĐ-PC09 ngày 10/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Mẫu máu thu trên người của Thân Trọng Quốc Đvà bị cáo Nguyễn Minh H gửi giám định không tìm thấy chất ma túy và các chất kích thích khác.
Theo Kết luận giám định số 568/KLGĐ-PC09 ngày 30/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận nguyên nhân chết của chị Huỳnh Thị L là do đa thương tích, đa chấn thương, xương hộp sọ bị vỡ toác, dập não dẫn đến chết.
Tại Kết luận giám định số 584/KLGĐ-PC 09 ngày 16/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:
+ Không có dấu vết va chạm giữa xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 77R-024.27 với xe mô tô BKS: 92C1-226.23.
+ Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 77R-024.27 với nạn nhân Huỳnh Thị L là mặt lăn bánh số 1 bên phải sơ mi rơ mooc BKS: 77R-024.27 với vùng đầu nạn nhân. Khi va chạm bị hại Huỳnh Thị L trong tư thế bị ngã qua bên trái trên mặt đường và bị cụm bánh bên phải sơ mi rơ mooc BKS: 77R-024.27 chuyển động theo hướng từ Nam ra Bắc chèn qua vùng đầu.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là đoạn đầu cầu phía Nam của cầu S trên trục đường Quốc lộ 1A thuộc thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Mặt cầu rộng 8m, ở giữa có vạch sơn vàng kẻ liền, hai bên cầu có hành lang cho người đi bộ qua cầu rộng mỗi bên 94cm, cao cách mặt cầu 26cm.
Làn đường xe cơ giới rộng 7m, ở giữa có vạch sơn vàng kẻ đứt quãng, hai bên có vạch sơn trắng kẻ liền. Làn đường xe thô sơ và người đi bộ phía Đông và Tây rộng lần lượt 1,2m và 1,3m, có các dấu vết sau: Vết chà su, sạch bụi mặt đường KT(3,9 x 0,07)m (V1); Vết xước mặt đường KT(1,3 x 0,02)m (V2); Vết chà xước mặt đường bám chất bột đỏ KT(1,7 x 0,15)m (V3); Vết xước bê tông KT(2,75 x 0,1)m (V4).
Từ trụ biển tên cầu S ở lề đường phía Đông về phía Tây Nam 3,5m; cách đầu phía Nam của hộ lang phía Đông về hướng Bắc 17m và cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 80cm là đầu phía Nam vết chà su, phủi sạch bụi mặt đường liên tục KT(3,9 x 0,07)m, vết trượt theo hướng Nam - Bắc; đầu phía Bắc vết này cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 90cm (ký hiệu: V1).
Từ đầu phía Bắc vết V1 về hướng Tây Bắc 60cm và cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 55cm là đầu phía Nam vết xước mặt đường nhựa có KT(1,3 x 0,02)m, vết trượt theo hướng Nam – Bắc; đầu phía Bắc vết này cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 74cm (ký hiệu: V2).
Từ đầu phía Bắc vết V2 về hướng Tây 44cm và cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 35cm là đầu phía Nam vết bám dính chất màu đỏ (nghi nhựa) có KT(1,7 x 0,15)m, vết trượt theo hướng Nam – Bắc; đầu phía Bắc vết này cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 30cm (ký hiệu: V3).
Từ đầu phía Bắc vết V3 về hướng Đông Bắc 26cm và cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Đông 60cm là đầu phía Nam của chùm vết xước đứt quãng trên mặt bê tông của hành lang đi bộ qua cầu (phía Đông); vết dài 2,75m đến gát chân trước (bên trái) của xe mô tô 92C1-226.23; chỗ rộng nhất 10cm; vết có bám dính chất màu đỏ - xanh, vết trượt theo hướng Nam – Bắc (ký hiệu: V4).
Xe mô tô 92C1-226.23 bị ngã qua trái, đầu xe quay hướng Đông Bắc, phần thân trước của xe mô tô nằm trên hành lang đi bộ qua cầu phía Đông. Trục bánh trước của xe mô tô cách mép hành lang đi bộ qua cầu phía Đông về hướng Tây 19cm; Trục bánh sau của xe mô tô cách mép hành lang đi bộ qua cầu phía Đông về hướng Đông 38cm.
Từ trục bánh sau xe mô tô 92C1-226.23 về hướng Bắc 1,5m và cách mép hành lang đi bộ qua cầu phía Đông về hướng Tây 90cm là vị trí vùng đầu của tử thi Huỳnh Thị L. Tử thi ở trạng thái nằm ngửa, đầu quay về hướng Đông Bắc, xung quanh vùng đầu của tử thi có nhiều máu, tổ chức não bị dập nát trong diện KT(1,2 x 0,5)m.
Từ trục bánh trước xe mô tô 92C1-226.23 về hướng Bắc 40m và cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Tây 20cm là trục bánh sau cùng bên trái của sơ mi rơmooc 77R-024.27. Trục bánh trước bên trái của đầu kéo 77C-165.17 cách vạch sơn trắng phía Đông về hướng Tây là 15cm; xe ô tô ở trạng thái dừng đỗ, đầu xe quay về hướng Bắc.
Mở rộng hiện trường: Từ trụ biển tên cầu S về hướng Nam 105,4m là trụ biển báo cầu hẹp và giao nhau với đường không ưu tiên bên phải.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện
* Xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo Sơmi rơmooc BKS: 77R-024.27
- Dấu vết trên phương tiện: Toàn bộ phần thân xe ô tô đầu kéo và Sơmi rơmooc bên phải (từ đầu cản trước của ô tô đầu kéo đến cầu trước bên phải của Sơmi rơmooc) vẫn còn nguyên lớp bụi trên bề mặt thân xe. Mặt ngoài bánh xe bên phải (cầu trước): Tại vị trí chữ “D” trong chữ “DOUBLE” theo chiều chuyển động tiến bánh xe 3cm có dấu mòn su, sạch bụi KT(50 x 11)cm, hướng trượt từ mặt lăn vào trong tâm trục. Mặt trong của cụm chắn bùn bên phải của Sơmi rơmooc có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ. Đồng thời ở má ngoài, má trong (lốp ngoài) và má ngoài (lốp trong) của 3 trục bên phải Sơmi rơmooc có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống đèn, còi, phanh, gạt nước,... hoạt động bình thường.
* Xe mô tô BKS: 92C1-226.23
- Dấu vết trên phương tiện: Ốp nhựa kính chiếu hậu trái bị xước nhựa. Đầu mút tay lái trái bị xước kim loại. Mặt trên chắn bùn trước (bánh trước) bị xước nhựa KT(20 x 1)cm. Cánh bửng chắn gió trái bị xước nhựa KT(57 x 7)cm. Đầu mút gát chân trước (trái) bị rách su, xước kim loại, bám dính chất bột màu trắng và bị đẩy về sau. Mặt ngoài và mặt dưới của cần bắt gát chân bị xước kim loại ngay tại điểm uốn cong. Mặt dưới trước của lốc máy (trái) bị xước kim loại. Cần số trước bị xước kim loại, ép sát lốc máy. Đầu mút gát chân sau (trái) bị xước kim loại. Mặt tiếp đất của bánh xe trước bị mòn hoa vân (gai lốp) hoàn toàn. Mặt dưới cần chân thắng bị xước kim loại. Đầu mút gát chân trước (phải) bị xước kim loại. Mặt ngoài, dưới cần bắt gát chân bị xước kim loại ngay tại điểm uốn cong. Mặt ngoài ống xả khói bị xước kim loại. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống đèn, còi, phanh,.... hoạt động bình thường.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ tạm giữ:
- 01 (một) xe mô tô BKS: 92C1-226.23 bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 92C1-226.23; tên chủ xe Nguyễn Minh H;
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Minh H;
- 01 (một) thùng nhựa tròn (có nắp đậy) màu đỏ - trắng, cao 22cm, đường kính 20cm, có quay xách màu đen;
- 01 (một) xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27;
- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 021520 của ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17; tên chủ xe: Phan Thành V.
- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký số: 003007 của sơmi romooc BKS: 77R-024.27; mang tên Phan Thành V.
- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: 5565795 của xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 do Trung tâm đăng kiểm phương tiện thủy bộ tỉnh Bình Định cấp ngày 08/8/2018.
- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số KC 5565792 của sơmi romooc BKS: 77R-024.27;
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC số 520048000188 của Thân Trọng Quốc Đ.
Cáo trạng số: 33/CT-VKS–ĐP ngày 15 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ đã truy tố Nguyễn Minh H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ đã trả lại 01 (một) xe mô tô BKS: 92C1-226.23 và 01 (một) thùng nhựa tròn (có nắp đậy) màu đỏ - trắng, cao 22cm, đường kính 20cm, có quay xách màu đen cho bị cáo Nguyễn Minh H là đúng quy định;
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ đã trả lại 01 (một) xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 021520 của ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: 5565795 của xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 cho chủ xe ông Phan Thành V là đúng quy định của pháp luật;
- Đề nghị trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 92C1-226.23 và 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 cho bị cáo Nguyễn Minh H;
- Đề nghị trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định của sơmi romooc BKS: 77R-024.27 cho ông Phan Thành V;
- Đề nghị trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC cho ông Thân Trọng Quốc Đ.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo Nguyễn Minh H đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và đại diện hợp pháp của bị hại đã bãi nại nên đề nghị không xem xét.
- Đối với thiệt hại của xe mô tô BKS: 92C1-226.23 chủ xe là Nguyễn Minh H không có yêu cầu gì về phần dân sự nên đề nghị không xem xét.
- Chủ phương tiện xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 tự nguyện hổ trợ gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng), chủ xe không có yêu cầu gì, nên đề nghị không xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 27/6/2019 bị cáo Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô BKS: 92C1-226.23 chở phía sau bị hại Huỳnh Thị L lưu thông theo hướng Nam – Bắc, tốc độ khoảng 50km/h. Khi đến đoạn đường Quốc lộ IA thuộc thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo điều khiển xe mô tô vượt bên phải xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27 do Thân Trọng Quốc Đ điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Trong quá trình vượt xe, phát hiện phía trước là hành lang phía Đông của cầu S, vì sợ tông vào hành lang nên bị cáo thắng gấp, làm cho xe mô tô BKS: 92C1-226.23 cùng bị cáo và bị hại Huỳnh Thị L nghiêng qua trái trượt ngã xuống đường. Hậu quả: chị Huỳnh Thị L bị xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27 cán trúng vùng đầu chết tại chỗ.
Bị cáo Nguyễn Minh H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết khi tham gia giao thông phải chấp hành nguyên tắc giao thông, nhưng do ý thức xem thường quy định của pháp luật nên gây ra tai nạn chết người. Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và gia đình bị hại đã bãi nại không yêu cầu gì về phần dân sự và xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt: Hành vi tham gia giao thông đường bộ điều khiển xe mô tô không chấp hành đúng quy định khi tham gia giao thông của bị cáo đã gây ra vụ tai nạn mà hậu quả làm thiệt hại về tính mạng cho người khác. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, mức độ rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã vi phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ và điều kiện bắt buộc của người lái xe khi tham gia giao thông quy định tại khoản 11 Điều 8, khoản 2 Điều 13 và khoản 4 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Do tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng nên xét thấy cần phải có mức hình phạt thật nghiêm minh, tương xứng đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời cũng là bài học cảnh tỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân. Tuy nhiên, cũng xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu do lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Minh H đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng) và đại diện hợp pháp của bị hại đã bãi nại không yêu cầu gì về phần dân sự; bị cáo không có yêu cầu thiệt hại gì đối với xe mô tô BKS: 92C1-226.23, Chủ phương tiện xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 tự nguyện hỗ trợ gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng), chủ xe ô tô không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 92C1-226.23 và 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 cho bị cáo Nguyễn Minh H.
Trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định của sơmi romooc BKS: 77R-024.27 cho ông Phan Thành V;
Trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC cho ông Thân Trọng Quốc Đ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ đã trả lại 01 (một) xe mô tô BKS: 92C1-226.23 và 01 (một) thùng nhựa tròn (có nắp đậy) màu đỏ - trắng, cao 22cm, đường kính 20cm, có quay xách màu đen cho bị cáo Nguyễn Minh H là đúng quy định của pháp luật.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ đã trả lại 01 (một) xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 kéo theo sơ mi rơmooc BKS: 77R-024.27; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 021520 của ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số: 5565795 của xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-165.17 cho chủ xe ông Phan Thành V là đúng quy định của pháp luật
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 31/10/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Minh H thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
2.1. Trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 92C1-226.23 và 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 cho bị cáo Nguyễn Minh H.
2.2. Trả lại 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định của sơmi romooc BKS: 77R-024.27 cho ông Phan Thành V;
2.3. Trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC cho ông Thân Trọng Quốc Đ.
Theo biên bản giao, nhận hồ sơ vụ án ngày 15 tháng 10 năm 2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ và Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH 14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Phổ; - Cơ quan THAHS công an huyện Đức Phổ; - Chi cục THADS huyện Đức Phổ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Phổ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Sang |