- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Kh phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 87/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HS-PT Ngày 27-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các thẩm phán:
Ông Bùi Đăng Huy.
Ông Lại Anh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 11/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Duy Kh và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2018/HSST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Duy Kh, sinh năm 1965, Nơi sinh và nơi cư trú: thôn A C, xã HS, huyện K M, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Kh1 và bà Vũ Thị H; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Đặng Minh Th, sinh năm 1990, Nơi sinh và nơi cư trú: thôn H Th, xã H S, huyện K M, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T và bà Lưu Thị Th; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày từ ngày 01/4/2018 đến ngày 04/4/2018 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa.
Ngoài ra còn có 13 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Chị Đỗ Thị Nh, sinh năm 1981, nơi cư trú: thôn Tr M, xã HA, huyện K M, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1963, nơi cư trú: xã Q T, huyện AL, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 01/4/2018, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Thắng H, Nguyễn Hồng H, Mạc Duy T, Trương Văn Th, Hoàng Văn M, Nguyễn Văn Đ, Đặng Minh Th, Trương Văn T, Phạm Tiến D, Nguyễn Duy Kh và Trần Văn Kh, Nguyễn Đình Đ, Trần Văn Th, Nguyễn Văn S cùng một số người khách đến nhà Nguyễn Văn T tại thôn Tr M, xã H A, huyện K M, tỉnh Hải Dương ăn liên hoan mừng nhà mới. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn liên hoan xong, H, Kh, T, Th, T, T ngồi nói chuyện, rồi cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn tiền. Sau đó, T đem theo 01 bát và 01 đĩa bằng sứ cùng với H, Kh, T, Th, T đi lên tầng 2 của gia đình T. Khi đi lên tầng 2, H thấy 01 chiếc kéo và quân bài tú lơ khơ nên đã cắt thành 04 quân bài hình tròn. Sau đó, Kh, T, Th, H và Tuyên ngồi xuống đánh bạc do Kh là người cầm cái. Hình thức đánh bạc đánh xóc đĩa ăn tiền, người chơi đặt cửa theo hai cửa chẵn và lẻ, khi mở bát ra mà có 02 quân bài hoặc 04 quân bài cùng màu thì gọi là chẵn, nếu có 01 hoặc 03 quân bài cùng màu thì gọi là lẻ, không quy định mỗi ván đánh thấp nhất, cao nhất là bao nhiêu tiền, nếu mở bát ra mà chẵn thì người đặt tiền bên chẵn sẽ được bạc, đặt tiền bên lẻ sẽ bị thua và ngược lại, tiền đặt cửa người chơi được thua với người cầm cái. T chơi hai ván bị thua hết tiền nên nằm ngủ tại đó. Một lúc sau thì D và H lần lượt lên đánh bạc cùng với Kh, T, Th, H. Sau đó, Kh, Th, S, Đ cùng đi lên tầng 2 của gia đình T tham gia đánh bạc. Khi đang đánh bạc, Kh bị thua hết tiền ra về, H thay Kh xóc cái cho mọi người tiếp tục đánh bạc. Tiếp đến, Đ lên tham gia đánh bạc cùng, H bị thua hết tiền nên ngồi xem. Sau đó, Đ và Th lên tham gia đánh bạc được vài ván thì M là người cuối cùng lên và tham gia đánh bạc cùng mọi người. Trong quá trình Kh, H và các đồng phạm đánh bạc thì T đi lên, đi xuống tiếp khách và tham gia đánh 02 ván bạc. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 15.600.000 đồng và các vật chứng. Thu giữ số tiền trên người của các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.690.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 24.290.000đ. Khi đánh bạc Th sử dụng 2.140.000 đồng, Kh sử dụng 150.000 đồng, Tới khai đã sử dụng 1.700.000 đồng, Th sử dụng 1.200.000 đồng, Kh sử dụng 300.000 đồng, Đ sử dụng 500.000 đồng, T sử dụng 70.000 đồng, D sử dụng 1.890.000 đồng, T sử dụng 100.000 đồng, Đ sử dụng 400.000 đồng, Th sử dụng 500.000 đồng, H sử dụng 1.200.000 đồng, H sử dụng 1.400.000 đồng, M sử dụng 700.000 đồng, Sẵn sử dụng 500.000 đồng, Đ sử dụng 2.200.000 đồng vào việc đánh bạc. Các bị cáo T, Th, Kh, Đ, T, Th, D khai số tiền mà lực lượng Công an thu trong người là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và do đánh bạc mà có. T và Đ khai số tiền bị thu giữ trong người không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Th khai số tiền bị thu giữ trong người trong đó 900.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và do đánh bạc mà có, số tiền 1.600.000 đồng còn lại Th không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 87/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Duy Khu, Đặng Minh Thông. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy Kh. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th phạm tội Đánh bạc. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Kh 12 (mười hai) tháng tù, bị cáo Đặng Minh Th 10 (mười) tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 09 tháng 27 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, vật chứng, án phí sơ thẩm hình sự, quyền kháng cáo của các bị cáo khác.
Trong các ngày 26 và 27/9/2018 bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Kinh M, tỉnh Hải Dương xét xử các bị cáo về tội danh là đúng, các bị cáo không kháng cáo nội dung này. Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng xử bị cáo Nguyễn Duy Kh 12 (mười hai) cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm; xử bị cáo Đặng Minh Th 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao các bị cáo cho địa phương nơi cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời gian luật định nên kháng cáo là hợp lệ. Trước khi mở phiên tòa, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đã có Quyết định thay đổi và phân công ông Phạm Văn Vững tham gia phiên tòa. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng như trên là phù hợp quy định của pháp luật. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo tuy nhiên trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, do vậy Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn T, nên trong vụ án này HĐXX không xem xét.
Về nội dung vụ án: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút đến 13 giờ 20 phút, ngày 01/4/2018, tại gia đình Nguyễn Văn T, ở thôn Tr M, xã H A, huyện K M, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T và các đối tượng Nguyễn Duy Kh, Nguyễn Hồng H, Nguyễn Thắng H, Đặng Minh Th, Mạc Duy T, Nguyễn Văn Đ, Phạm Tiến D, Trần Văn Th, Hoàng Văn M, Nguyễn Văn S, Nguyễn Đình Đ, Trương Văn Th, Trương Văn T, Hoàng Văn Đ và Trần Văn Kh đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Đến khoảng 13 giờ 20 phút, cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 15.600.000đ. Thu giữ số tiền trên người của các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.690.000đ. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 24.290.000đ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc và tội Gá bạc, theo quy định tại khoản 1 điều 321, điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th và các bị cáo khác đủ yếu tố cấu thành về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn đã xét xử đối với các bị cáo về tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị về tội danh nên HĐXX không xem xét.
Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Về vị trí, vai trò của các bị cáo kháng cáo. Đối với bị cáo Kh là người cầm cái đầu tiên nhưng có số tiền và thời gian đánh bạc ít hơn các bị cáo khác nên vai trò của bị cáo trong vụ án là sau bị cáo T. Bị cáo Th tham gia đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc 2.140.000đ, quá trình đánh bạc bị cáo còn trực tiếp cho bị cáo Đ vay số tiền 2.000.000đ sử dụng để đánh bạc, tính chất hành vi của bị cáo là cao hơn so với các bị cáo khác nhưng thấp hơn bị cáo T, Kh nên bị cáo giữ vai trò sau Kh. Cấp sơ thẩm xác định như vậy là đúng tính chất, vị trí vai trò của các bị cáo kháng cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là những người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Kh có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ. Cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã xét xử, áp dụng mức hình phạt như trên là phù hợp. Tại tại cấp phúc thẩm các bị cáo nộp biên lai thu tiền án phí, tiền phạt thể hiện sự ăn năn, hối cải, có ý thức trong việc chấp hành pháp luật, đây là tình tiết mới phát sinh trong quá trình xét xử phúc thẩm, HĐXX cần áp dụng đối với các bị cáo khi xem xét giải quyết kháng cáo. Các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, việc cho bị cáo được hưởng án treo không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc cho các bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 87/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy Kh.
Xử phạt Nguyễn Duy Kh 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc". Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh Th 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc". Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th cho Uỷ ban nhân dân xã HS, huyện K M, tỉnh Hải Dương nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Duy Kh, Đặng Minh Th không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư Pháp tỉnh Hải Dương; -Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương; - VKSND, TAND huyện Kinh Môn; - CQCSĐT, CQ T.H.A .HS - CA huyện Kinh Môn; - Chi cục THADS huyện Kinh Môn; - Các bị cáo; - Lưu tòa; Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Tân |