- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Kim Thị Sóc T;
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-8-2019 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trung Vẹn
Ông Đỗ Văn Trung
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hùng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35 /2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 225/2019/QĐXXST-DS ngày 5 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kim Thị Sóc T, sinh năm 1996 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp O, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Tsai, Shang - L, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Đài Loan - Trung Quốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Kim Thị Sóc T là nguyên đơn trình bày: Chị Kim Thị Sóc T và anh Tsai, Shang - L do người thân mai mối nên anh chị quen biết nhau từ tháng 11 năm 2018, qua tìm hiểu nhau đến tháng 3/2019 anh Tsai, Shang - L qua Việt Nam tổ chức đám cưới với chị Kim Thị Sóc T. Sau đó anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T vào ngày 17/4//2019. Sau khi cưới nhau được 10 ngày thì anh Tsai, Shang - L trở về Đài Loan. Sau khi anh Tsai, Shang - L về Đài Loan anh chị rất ít liên lạc với nhau, do mỗi người sống một nơi cách xa về địa lý, bất đồng ngôn ngữ nên khó khăn trong giao tiếp, nên không thể quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không thể xây dựng gia đình hạnh phúc.
Nay chị Kim Thị Sóc T xin được ly hôn với anh Tsai, Shang - L. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Theo lời khai của anh Tsai, Shang - L là bị đơn trình bày: Anh thống nhất với chị Kim Thị Sóc T về thời gian kết hôn. Về tài sản chung, con chung, nợ chung không có; Anh đồng ý ly hôn với chị Kim Thị Sóc T và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh về vụ án: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hôn nhân chị Kim Thị Sóc T và anh Tsai, Shang –Lun thống nhất ly hôn với nhau, con chung tài sản chung không có đề nghị Tòa án cho chị Kim Thị Sóc T và anh Tsai, Shang - L được ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật của vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 3 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh.
Nguyên đơn, bị đơn có bản tự khai trình bày rõ các vấn đề trong vụ án và có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Quan hệ hôn nhân chị Kim Thị Sóc T và anh Tsai, Shang- Lun xác lập hôn nhân vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Kim Thị Sóc T, sau khi cưới nhau anh chị chung sống với nhau được 10 ngày thì anh Tsai, shang - L trở về nước sinh sống, do bất đồng ngôn ngữ, cách xa về địa lý nên chị Kim Thị Sóc T xin được ly hôn.
Theo khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng chị Kim Thị Sóc T và anh Tsai, Shang - L đã không thực hiện các nghĩa vụ này với nhau. Nay chị Kim Thị Sóc T xin ly hôn và anh Tsai, Shang – Lun cũng đồng ý ly hôn, nên chấp nhận cho chị Kim Thị Sóc T được ly hôn với anh Tsai, Shang – L.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu, nên Tòa không giải quyết.
Về án phí: Chị Kim Thị Sóc T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; khoản 3 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Kim Thị Sóc T;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Kim Thị Sóc T được ly hôn với anh Tsai, Shang – L.
2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
3. Về án phí: Chị Kim Thị Sóc T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, chi Kim Thị Sóc T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004918 ngày 01/8/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh nên cấn trừ.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc niêm yết. Bị đơn quyền kháng cáo bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Cục THADS tỉnh Trà Vinh; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: TDS, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thành Trung |