- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị V - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/HNGĐ-ST Ngày 04/10/2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Xuân Tìm
2. Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện im Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị V, sinh năm 1984, có m t
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983, v ng m t
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng:
1. Bà Đào Thị L (là mẹ đẻ của anh T), sinh năm 1959
2. Bà Nguyễn Thị D (là mẹ đẻ của chị V), sinh năm 1961
Đều có địa chỉ: ThônT, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đều v ng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Phạm Thị V trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương tổ chức đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/7/2003. Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống cùng v i bố m anh T được hơn m t năm thì anh chị ra ở riêng. Anh chị chung sống hòa thuận hạnh ph c đến giữa năm 2017 thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng không có sự tôn tr ng yêu thương nhau, anh T mải chơi, không tu chí làm ăn, thư ng xuyên chơi c bạc, đi đêm về hôm, vay nợ lãi bên ngoài. Anh T còn có biểu hiện quan hệ nam nữ bên ngoài. M c dù chị không có b ng chứng nhưng qua thông tin của bạn b nên chị biết. Chị và bố m anh T đã khuyên bảo anh T nhiều l n nhưng anh T không thay đổi. Chị c ng đã phải trả nợ cho anh T nhiều l n nhưng anh T v n còn mải chơi, tiếp tục nợ n n bên ngoài. Việc vay nợ của anh T chị không được biết, nhưng thư ng xuyên có ngư i đến nhà đòi nợ chị và còn đe d a chị. Mâu thu n của chị và anh T c ng đã được hai bên gia đình khuyên bảo hòa giải nhiều l n nhưng tình cảm vợ chồng v n không thể hàn g n được, mâu thu n của vợ chồng đến nay rất tr m tr ng. Anh chị chính thức ly thân nhau t tháng 6 năm 2019 cho t i nay, không ai còn quan tâm t i ai nữa. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, mâu thu n vợ chồng đã rất tr m tr ng. Chị đề nghị được ly hôn v i anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có ba con chung là Nguyễn Thị Ng c A, sinh ngày 28/8/2004, Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 11/01/2012 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/12/2015. Hiện, cả ba cháu đang ở v i chị. Cháu A bị khuyết tật đ c biệt n ng, dạng khuyết tật: Nhìn, trí tuệ, nghe, nói, khác. Cháu A không thể trình bày quan điểm, nguyện v ng của cháu. Nhưng t trư c t i nay chị v n luôn là ngư i nuôi cháu. Sau khi ly hôn, chị có nguyện v ng được nuôi cả ba con chung; vì trư c khi n p đơn đến Tòa án chị và anh T c ng đã th a thuận chị là ngư i nuôi ba cháu. Hiện, chị làm công việc buôn bán tự do tại xã, thu nhập bình quân của chị t 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/ tháng, nên s đảm bảo việc nuôi con. Những l c chị đi làm thì m chị gi p đ chị trong việc chăm sóc, nuôi các cháu. Chị không yêu c u anh T phải cấp dư ng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu c u Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều l n triệu tập anh T và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T đều không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập anh T đến tham gia phiên tòa nhưng anh T v ng m t. Tòa án quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập anh T đến phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh T v n v ng m t.
Tại phiên toà, chị V giữ nguyên quan điểm như trên. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án c ng như tại phiên toà, Thẩm phán, H i đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đ ng thủ tục tố tụng; nguyên đơn chấp hành đ ng pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đ ng pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị H i đồng xét xử: Áp dụng: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 B luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị V được trực tiếp nuôi dư ng ba con chung là Nguyễn Thị Ng c A, sinh ngày 28/8/2004, Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 11/01/2012 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/12/2015. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V về việc không yêu c u anh T cấp dư ng nuôi con chung. Về án phí: Chị Phạm Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhiều l n nhưng đều v ng m t. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của B luật Tố tụng dân sự. Tòa án xét xử v ng m t bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị V và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào năm 2003, việc kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định, được xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến giữa năm 2017 thì phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cu c sống, anh chị có sự nghi ng nhau, không tin tưởng nhau, anh T mải chơi, không quan tâm đến gia đình và mâu thu n về kinh tế trong gia đình. Anh chị đã ly thân được m t th i gian, nhưng anh T c ng không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ hôn nhân v i chị V. Bà Đào Thị L là m đẻ anh T c ng xác nhận anh chị có mâu thu n, do anh T còn mải chơi, làm ăn thua lỗ, anh chị lại nghi ng nhau. Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, anh T không có m t theo giấy triệu tập của Tòa án để Tòa án làm việc, hòa giải; thể hiện việc anh T b m c cho quan hệ hôn nhân đổ v . Tại phiên tòa, chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị xin được ly hôn anh T. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng tr m tr ng, đ i sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Toà án chấp nhận yêu c u của chị Phạm Thị V xin được ly hôn anh Nguyễn Văn T là phù hợp v i Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Phạm Thị V và anh Nguyễn Văn T có ba con chung là Nguyễn Thị Ng c A, sinh ngày 28/8/2004, Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 11/01/2012 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/12/2015. Cả ba cháu đang do chị V nuôi dư ng. Cháu A bị khuyết tật, cháu Ch có nguyện v ng được ở v i chị V. Quá trình chuẩn bị xét xử, anh T không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến gì về việc nuôi con. Chị V có công việc, chỗ ở và thu nhập ổn định và có nguyện v ng xin được trực tiếp nuôi cả ba cháu. Để đảm bảo quyền lợi về m i m t và sự phát triển ổn định của các cháu, Toà án chấp nhận đề nghị của chị V, giao cho chị V được trực tiếp nuôi dư ng cháu Nguyễn Thị Ng c A, cháu Nguyễn Minh Ch và cháu Nguyễn Thị Yến N đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp v i quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V về việc không yêu c u anh T cấp dư ng nuôi con.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Phạm Thị V không yêu c u Toà án phải giải quyết nên Toà án không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị V có đơn yêu c u ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 của B luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao ba con chung là Nguyễn Thị Ng c A, sinh ngày 28/8/2004, Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 11/1/2012 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 24/12/2015 cho chị Phạm Thị V trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc kể t tháng 10/2019 đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V về việc không yêu c u anh T cấp dư ng nuôi con chung.
3. Án phí: Chị Phạm Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được tr vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã n p là 300.000 đồng theo biên lai số: 0004015 ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chị Phạm Thị V đã n p đủ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án, đối v i đương sự v ng m t tại phiên toà thì th i hạn kháng cáo được tính t ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |