vanban.org

Bản án 25/2019/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 02/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của các ông bà

Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H, Hoàng Thị N về chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Văn S và Vũ Thị D đối vớ i 446m2 đất thửa đất 294 và 131, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng. Cụ thể: Các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 25/2019/DS-ST Tuyên án 02/10/2019
Giám đốc thẩm Bản án 90/2022/DS-GĐT Tuyên án 24/09/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Hoàng Văn B-Hoàng Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của các ông bà
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2019/DS-ST
Ngày 02-10-2019
V/v tranh chấp về thừ a kế tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đứ c Ma ̣nh

Ông Nguyễn Kim San

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hồng Phương là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Binh - Kiểm sát viên.

̀

Ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3576/2019/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3801/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Hoàng Văn B; nơi cư trú : Thôn X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Người đại diện hợp phá p của ông Hoàng Văn B: Bà Hoàng Thị T; nơi cư trú : Thôn I, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 3 năm 2019), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Văn B: Ông Trần Minh N, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bà Hoàng Thị H; nơi cư trú : Thôn 7, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

3. Bà Hoàng Thị G; nơi cư trú : Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Người đại diện hợp phá p của bà Hoàng Thị G: Ông Đoàn Văn C; nơi cư trú : Thôn H, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng là người đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 9 năm 2019); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị G: Bà Nguyễn Thị H, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

4. Bà Hoàng Thị B; nơi cư trú : Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Người đại hợp phá p của bà Hoàng Thị B: Ông Đoàn Văn C; nơi cư trú : Thôn H, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng là người đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 8 năm 2019); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị B: Bà Nguyễn Thị Hồng T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng.

5. Bà Hoàng Thị N; nơi cư trú : Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

6. Bà Hoàng Thị T; nơi cư trú : Thôn I, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Ông Hoàng Văn L; nơi cư trú: Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị T; nơi cư trú : Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

2. Anh Hoàng Văn T, nơi cơ trú : Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

3. Uỷ ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng; trụ sở: Khu II, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp phá p : Ông Nguyễn Văn Đ - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 31 tháng 10 năm 2018); vắng mă ̣t.

4. Văn phòng Đăng ký đất đai T; trụ sở: Số X, phường Y, quận Z, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp phá p: Ông Nguyễn Trọng V- Giám Đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền só 159 ngày 27 tháng 3 năm 2019); vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong các đơn khởi kiện và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H, Hoàng Thị N thống nhất trình bày: Cụ Hoàng Văn S và cụ Vũ Thị D sinh được bẩy người con là các ông bà : Hoàng Văn B, Hoàng Văn L, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H, Hoàng Thị N. Cụ Hoàng Văn S mất năm 1979, cụ Vũ Thị D mất năm 2010, đều không để lại di chúc . Hai cu ̣ có tạo dựng được một diện tích đất là 663 m2 tại đội 13, thôn BX, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Năm 2005, ông Hoàng Văn L tự ý cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với mảnh đất trên thành hai mảnh, một mảnh có diện tích 208,3m2 mang tên cụ Vũ Thị D, hiện nay do bà Hoàng Thị G và Hoàng Thị B đang quản lý, sử dụng và một mảnh 454,7m2 mang tên ông Hoàng Văn L, bà Bùi Thị T hiện ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T đang quản lý sử dụng mà không có sự đồng ý của cụ Vũ Thị D và các nguyên đơn . Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy hai GCNQSDĐ ma Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T đã cấp cho cụ Vũ Thị D và ông

̀ Hoàng Văn L, bà Bùi Thị T đồng thờ i chia thừ a kế di sản của hai cụ là 663m2 đất nêu trên theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Hoàng Văn L trình bày (Theo Biên bản lấy lờ i khai ngà y 31 tháng 8 năm 2018, Biên bản nà y ông Hoàng Văn L không ký nhưng có đại diê ̣n Công an xã chứng kiến): Nguồn gốc đất tranh chấp là của bố mẹ ông là cụ Hoàng Văn S và cụ Vũ Thị D để lại tại địa chỉ Xóm 13, thôn BX, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Cụ Hoàng Smất năm 1979, cụ D mất năm 2010. Năm 1982, ông đi bộ đội về được mẹ ông là cụ Vũ Thị D cho 454,7m2 trong phần diện tích đất bố mẹ ông để lại. Việc tặng cho, mẹ ông có lập bằng văn bản và làm thủ tục sang tên, ký tên xác nhận do Ủy ban nhân dân xã N lưu giữ. Khi mẹ ông cho phần diện tích đất này thì các nguyên đơn đều biết và đồng ý để cụ Vũ Thị D tặng cho ông. Bản thân ông Hoàng Văn B là anh trai cả, khi ông đi bộ đội về đã đề nghị ông ở phần diện tích này với mẹ để ông Hoàng Văn B ra ở phần đất chân rau. Năm 2005, do Nhà nước có chính sách cấp GCNQSDĐ đại trà cho người dân nên ông và mẹ được cấp GCNQSDĐ, trong đó ông được cấp GCNQSDĐ đối với 368m2 trong số 454,7m2, còn lại là đất hành lang giao thông , đây chính là diện tích đất mẹ ông tặng cho từ năm 1982 và đã làm thủ tục sang tên được Ủy ban nhân dân xã N quản lý, theo dõi. Trên diện tích đất được cấp GCNQSDĐ ông đã xây dựng một ngôi nhà 02 tầng và mô ̣t quán lợp tôn ma ̣ màu từ năm 2016. Ông chưa chuyển nhượng bất cứ diện tích đất nào trong số diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác. Chỉ có diện tích đất của mẹ ông được cấp GCNQSDĐ đã bán cho nhiều người và hiện nay chỉ còn khoảng 70m2 hiện do bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị G quản lý, sử dụng. Ông không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn, nếu nguyên đơn muốn chia thừa kế thì chia phần diện tích đã được cấp GCNQSDĐ của mẹ ông là cụ Vũ Thị D, còn phần diện tích đất ông được cấp GCNQSDĐ là của ông, ông có quyền quản lý, sử dụng, không ai có quyền yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất này. Ông không đồng ý với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của nguyên đơn vì ông đã được Ủy ban nhân dân huyện công nhận và cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị T trình bày (Theo Biên bản làm việc ngày 27 tháng 11 năm 2018, Biên bản nà y bà Bùi Thị T không ký nhưng có đại diê ̣n Công an xã chứ ng kiến ): Bà và ông Hoàng Văn L hiện đang sinh sống trên mảnh đất có tranh chấp. Mảnh đất này là mẹ ông bà là cụ Vũ Thị D cho ông bà, đã được chính quyền cấp GCNQSDĐ và sinh sống ổn định, do đó bà không có ý kiến gì, nếu các ông Hoàng Văn B , bà Hoàng Thị H khởi kiện thì đề nghị Tòa án hỏi nguyên đơn và xác minh tại địa phương để biết rõ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn T trình bày (Theo Biên bản là m viê ̣c ngà y 30 tháng 11 năm 2018, Biên bản nà y anh Hoàng Văn T không ký nhưng có đại diê ̣n Công an xã chứ ng kiến ): Anh đã được biết nội dung thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, tuy nhiên anh từ chối khai báo vì cho rằng anh không liên quan đến vụ án.

Tại Văn bản ngày 05 tháng 11 năm 2018, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến:

- Về yêu cầu của nguyên đơn hủy GCNQSDĐ đã cấp cho cụ Vũ Thị D: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 288592 có số vào sổ cấp GCNQSDĐ H 00193 ngày 27 tháng 11năm 2006 do Ủ y ban nhân dân huyện T cấp cho cụ Vũ Thị D vào thời điểm cụ Vũ Thị D còn sống, trên cơ sở hồ sơ cấp giấy chứng nhận theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hồ sơ gồm có: Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Trích lục bản đồ hiện trạng mặt bằng sử dụng đất; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất tất cả đều có điểm chỉ của cụ Vũ Thị D. Cụ Vũ Thị D đã chết năm 2010 để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ đất mang tên cụ Vũ Thị D nêu trên. Nay các con cụ Vũ Thị D đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc thừa kế tài sản . Sau khi Tòa án giải quyết, thửa đất trên thuộc quyền sử dụng đất của ai thì Ủ y ban nhân dân huyện sẽ thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành việc thu hồi GCNQSDĐ mang tên cụ Vũ Thị D và cấp cho người có quyền thừa kế sử dụng thửa đất đó.

- Về yêu cầu của nguyên đơn hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông Hoàng Văn L đối:

+ Về hồ sơ quản lý của Ủ y ban nhân dân xã N đối với thửa đất : Trước năm 1993, Ủy ban nhân dân xã N không có hồ sơ, tài liệu về quản lý đất đai.

Tại sổ tay không ghi năm thể hiện: chủ hộ Lác (theo công chức địa chính xã N là ông Láp) diện tích đất ở 360 m2, diện tích ruộng 5% là 72 m2, cộng là 432 m2.

Tại sổ tay theo dõi đất thổ cư năm 1993 của xã có thể hiện tên người sử dụng là ông Hoàng Văn L, diện tích đất 368 m2 (gồm thổ cư 332 m2 và đất vườn 36 m2).

Theo bản đồ địa chính xã N năm 2005 và Sổ Mục kê kèm theo thể hiện: Tại tờ bản đồ số 11, thửa đất số 294, hiện trạng sử dụng: Để ở (thổ cư), diện tích 454,7m2, tên chử sử dụng là Hoàng Văn L.

+ Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ số AN 494290 số vào sổ cấp GCNQSDĐ 00448 ngày 26 tháng 12 năm 2006 do Ủ y ban nhân dân huyện cấp cho hộ ông Hoàng Văn L và bà Bùi Thị T với diện tích đất 368m2 (gồm thổ cư 332m2 và đất vườn 36m2) gồm có: Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Trích lục bản đồ hiện trạng mặt bằng sử dụng đất; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất.

Thửa đất đã được ông Hoàng Văn L sử dụng từ trước năm 1993 và đã được Ủy ban nhân dân xã N quản lý, theo dõi thể hiện ở các hồ sơ, tài liệu của xã được nêu ở trên. Hộ ông Hoàng Văn L sử dụng ổn định đến năm 2006 lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ đã được Ủ y ban nhân dân xã N xác nhận là không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Thời điểm năm 2006 lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, hộ ông Hoàng Văn L là người sử dụng đất đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ. Hộ ông Hoàng Văn L được cấp GCNQSDĐ phù hợp quy định tại Điều 50 Luật Đất đai . Việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ được thực hiện theo Điều 135 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết vụ án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, phù hợp với thực tế, góp phần ổn định tình hình chung của địa phương.

Tại phiên tòa:

Ngườ i đại diê ̣n hợp phá p cho bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B cùng các bà Hoàng Thị N, Hoàng Thị H, Hoàng Thị T thống nhất trinh bà y: Về cơ bản, vẫn giữ

̀ nguyên ý kiến như đã trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án (đa đượ̃

c tóm tắt ở phần trên). Tuy nhiên, về diê ̣n tich đất thi các đương sự yêu cầu

́

̀ chia 554,7m2 đất chư không phải 663m2 đất va hủy GCNQSDĐ do Ủ y ban nhân

́

̀

dân huyê ̣n T cấp cho cu ̣ Vũ Thị D đối vớ i 78m2 đất chứ không phải 208,3m2 đất như trong đơn khở i kiê ̣n . Lý do là do các nguyên đơn không nhớ chính xác các số liê ̣u trên.

Ngoài ra các nguyên đơn có mặt và người đại diện cho các nguyên đơn vắng mặt cò n trinh bà y: Năm 2016, khi vợ chồng ông Hoàng Văn L xây nhà, lúc đó anh

̀ chị em c ó tranh chấp thì mới biết vợ chồng ông

Hoàng Văn L đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ đối vớ i thử a 294. Các ông bà cũng không biết được việc cụ Vũ Thị D được cấp GCNQSDĐ, sau khi cu ̣ Vũ Thị D mất không ai để ý đến các giấy tờ của cụ, khi biết vợ chồng ông Hoàng Văn L được cấp GCNQSDĐ thi các ông bà mớ i

̀ kiểm tra giấy tờ của cu ̣ Vũ Thị D thì thấy có GCNQSDĐ và giao cho bà Bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý. Số diê ̣n tich đất mà ông Hoàng Văn L khai cu ̣ Vũ Thị

́

D bán thì không phải cụ Vũ Thị D bán mà do khoảng năm 1992, 1993 khi đó con trai của ông Hoàng Văn L là anh Hoàng Văn T ốm nên ông Hoàng Văn L xin phép cụ Vũ Thị D để bán và cụ Vũ Thị D có gọi các con về để hỏi ý kiế n, vì lúc đó là cần tiền để cứ u cháu nên mo ̣i ngườ i đồng ý . Đối với diện tích đã bán đi thì các nguyên đơn không yêu cầu chia nữa . Bứ c tườ ng rào xây ngăn hai thử a đất là khi các nguyên đơn xây lại ngôi nhà cho cụ Vũ Thị D thì xây lên, mục đích là để cho gà, lợn nhà ông Hoàng Văn L không sang bớ i bẩn chứ không phải mu ̣c đich là để

́ cho vợ chồng ông Hoàng Văn L phần đất vợ chồng ông Hoàng Văn L đang ở . Nguyê ̣n vo ̣ng của các nguyên đơn là được chia bằng hiê ̣n vâ ̣t, đối vớ i phần đất vợ chồng ông Hoàng Văn L đa xây nhã

̀ kiên cố thi không yêu cầu trả la ̣i đất mà vợ

̀

chồng ông Hoàng Văn L phải thanh toán bằng tiền . Phần các nguyên đơn được hưở ng không yêu cầu chia lẻ mà giao cho ông Hoàng Văn B quản lý phần đất trống do gia đinh ông Hoàng Văn L phải trả lại cùng số tiền chênh lệch vợ chồng ông

̀ Hoàng Văn L phải thanh toán, giao cho bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị B quản lý phần diê ̣n tich hiê ̣n các bà vẫn đang quản lý.

́

Những ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p cho cá c cá c bà Hoàng Thị G,

́

Hoàng Thị B, ông Hoàng Văn B thống nhất trinh bay: Viê ̣c Ủ y ban nhân dân huyê ̣n

̀

̀ T cấp GCNQSDĐ cho cu ̣ Vũ Thị D và vợ chồng ông Hoàng Văn L là chưa đảm bảo, vì: Theo luâ ̣t Hôn nhân và Gia đinh năm 1959 thì diện tích đất tranh chấp là là

̀

tài sản chung của cụ Vũ Thị D và Hoàng Văn S. Kê khai đứ ng tên trên sổ sách chi

̉ chứ ng minh ngườ i quản lý chứ không chứ

ng minh ngườ i sở hữu . Hồ sơ cấp GCNQSDD cho cu ̣ Vũ Thị D không có tài liê ̣u phân chia di sản thừ a kế nên không xác định được phần nào của cụ Vũ Thị D , phần nào của cu ̣ Hoàng Văn S , Các nguyên đơn không có tài liê ̣u nào thể hiê ̣ n đa cho bi ̣̃

đơn và bi ̣ đơn không có tài liê ̣u nào để chứ ng minh minh được bố me ̣ hay các thừ a kế khác tă ̣ng cho . Đề nghi ̣

̀ Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n yêu cầu của các nguyên đơn hủy hai GCNQSDĐ mà Ủy ban nhân dân huyện T đa cẫ ́p cho cu ̣ Vũ Thị D và vợ chồng ông Hoàng Văn L và chia thừa kế 554,7m2 tại hai thửa 131 và 294, tờ Bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng cho các thừa kế của cụ Vũ Thị D và Hoàng Văn S theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa. Các đương sự được thực hiê ̣n đầy đủ quyền và nghia vu ̣̃

của minh.

̀

Về nội dung:

- Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ thửa số 131, tờ bản đồ số 11 tại thôn BX, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng: Năm 2006 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00193 ngày 27 tháng 11 năm 2006 cho cụ Vũ Thị D, diện tích đất 78m2 đã trừ hành lang giao thông vào thời điểm cụ Vũ Thị D còn sống và không vượt qua phần của cu ̣ trong khối tai sản chung vợ chồng. Do vậy, viê ̣c Ủ y ban

́

̀

nhân dân huyê ̣n T cấp GCNQSDĐ cho cu ̣ Vũ Thị D là đúng quy định của pháp luật nên yêu cầu hủy GCNQSDĐ đối vớ i thử a131 là không có căn cứ.

- Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ thử a294, tờ bản đồ số 11 tại thôn Bạch Xa, xã N, huyện T, thành phốHải Phòng: Diện tích đất này nằm trong diện tích đất 554,7m2 là do cụ Hoàng Văn Sộp và cụ Vũ Thị D tạo dựng được. Tại thời điểm lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, cụ Hoàng VănSộp đã chết năm 1979 nhưng không có văn bản ý kiến của ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị H, bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị N. Mặt khác, cụ Vũ Thị D không biết chữ, các văn bản cụ đều điểm chỉ nhưng trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Hoàng Văn L và bà Bùi Thị T lại có chữ ký của cụ. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự khẳng định không có sự tặng cho của cụ Vũ Thị D cho ông Hoàng Văn L. Do vâ ̣y, việc cấp GCNQSDĐ thử a số 294 cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T là vi phạm quy định và không đảm bảo quyền, lợi ích của các đương sự nên yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của các nguyên đơn là có căn cứ.

- Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 554,7m2 tại tại xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng của đồng nguyên đơn.

Tài liệu trong hồ sơ thể hiện cụ Hoàng Văn S và Vũ Thị D có khối tài sản chung là diện tích đất 854,4m2 tại Thôn I, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Khi cụ Vũ Thị D còn sống cụ bán mô ̣t phần đất cho ngườ i khác , diện tích đất còn lại là 554,7m2. Sau này chỉ có bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị G và ông Hoàng Văn L còn ở cùng với mẹ trên mảnh đất nêu trên, còn lại những người khác có gia đình ở riêng. Năm 2005, lúc đó cụ Vũ Thị D còn sống, cụ không biết chữ, ông Hoàng Văn L đã tự ý làm thủ tục tách mảnh đất của bố mẹ thành hai thửa. Mô ̣t thử a mang tên cu ̣ Vũ Thị D, mô ̣t thử a mang tên vợ chồng ông Hoàng Văn L. Trong 554,7m2 đất có 446m2 đất đã được cấp GCNQSDĐ chia làm hai thửa là thửa đất số 131, chủ sử dụng là cụ Vũ Thị D, diện tích là 78m2 (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ diện tích hiện trạng sử dụng đất là 99m2) và thửa đất số 294 chủ sử dụng là ông Hoàng Văn L và bà Bùi Thị T có diện tích 368m2 (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ diện tích hiện trạng sử dụng đất là 347m2). Như vậy, diện tích được cấp GCNQSDĐ và diện tích hiện trạng sử dụng đất của hai thửa đất không giống nhau nhưng cộng lại đều bằng 446m2. Đối với phần đất lưu không hành lang giao thông, Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến chưa xác định rõ về loại đất nên tách ra để giải quyết sau nên chỉ chia thừa kế đối với diê ̣n tich 446m2 đa đượ̃

c Nhà nướ c cấp

́

GCNQSDĐ. Cụ Hoàng Văn S, cụ Vũ Thị D chết không để la ̣i di chúc nên chia theo pháp luật. Cụ Hoàng VănS, cụ Vũ Thị D mỗi cụ được hưởng ½ di sản. Phần đất cu ̣Vũ Thị D đa bã ́n là hợp pháp vì không vượt quá phần cụ được hưởng. Đối với di sản của cụ Hoàng VănS để lại do ông Hoàng Văn L ở trên đất từ năm 1982 và thực hiện trách nhiệm nộp thuế đối với Nhà nước nên cần tinh công sức tôn tạo trên đất bằng mô ̣t kỷ

́

phần thừ a kế. Các đương sự đều có nguyện vọng được nhận hiện vật, bà Hoàng Thị H, bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị N thống nhất giao cho ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị G quản lý diện phần được hưở ng đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n. Khi phân chia hiê ̣n vâ ̣t đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử xem xét hiê ̣n trang kiến trúc trên đất để không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến sinh hoạt của các đương sự đang sử du ̣ng đất.

Từ phân tích trên, đề nghị Hô ̣i đồng xét xử : Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 649, 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên:

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 294, tờ bản đồ số 11 tại thôn BX, xã N, huyện T, Hải Phòng được UBND huyện T cấp số H00448 ngày 26 tháng 12 năm 2006 mang tên ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T.

- Chia di sản thừa kế của cụHoàng Văn S, Vũ Thị D là 446m2 tại thửa131 và 294, tờ bản đồ số 11 tại thôn BX, xã N, huyện T cho các thừ a kế của các cu ̣ theo quy đi ̣nh của pháp luật.

- Chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ của các nguyên đơn được nhâ ̣n bằng hiê ̣n vâ ̣t và chấp nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n các các bà Hoàng Thị H, bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị N giao kỷ phần thừ a kế được hưở ng cho ông Hoàng Văn B , bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Văn B , bà Hoàng Thi ̣ B, bà Hoàng Thị G là người khuyết tật, nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm . Các đương sự khác phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lờ i trinh bày của đương sự , ý kiến của Ngườ i bảo vệ quyền và lợi

̀ ích hợp pháp cho nguyên đơn, quan điểm của Ðại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự tranh chấp về thừ a kế tài sản theo khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về tư cách ngườ i tham gia tố tu ̣ng: Theo lời trinh bày của ông Hoàng Văn

̀ L thì ông chưa chuyển nhượng bất cứ diện tích đất nào trong số diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ cho người khác nhưng theo Biên bản xác minh ngày

13 tháng 6 năm 2019 thì ông Bùi Công K có trình bày : Năm 2017, ông có nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Hoàng Văn L diê ̣n tich đất chiều ngang là 4m chiều dài

́

chạy hết đất, ông đa giao đũ

̉ tiền cho ông Hoàng Văn L nhưng chưa làm được thủ tục, do sau khi mua thi anh em ông Hoàng Văn L có tranh chấp, diê ̣n tich đất ông

̀

́ mua vẫn do gia đinh ông Hoàng Văn L quản lý. Viê ̣c tranh chấp trên là nô ̣i bô ̣ của

̀ anh em ông Hoàng Văn L không liên quan đến ông. Viê ̣c mua bán giữa ông và ông Hoàng Văn L thì ông sẽ tự giải quyết vớ i ông Hoàng Văn L, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vâ ̣y không cần thiết phải đưa ông Bùi Công K tham gia trong vu ̣ án vớ i tư cách ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Hoàng Văn B , bà Hoàng Thị G , bà Hoàng Thị B vắng mă ̣t nhưng có ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền có mă ̣t ; Người đại diê ̣n theo ủy quyền của Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T vắng mă ̣t nhưng co đơn đề nghi ̣

́ xét xử vắng mặt; Người đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của Văn phòng Đăng ký Đất đai T, ông Hoàng Văn L, bà Bùi Thị T, anh Hoàng Văn T vắng mă ̣t lần thứ hai không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xé t xử vắng mă ̣t các đương sự nêu trên.

Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Hoàng Văn S mất năm 1979, cụ Vũ Thị D mất năm 2010. Tháng 7 năm 2018, các nguyên đơn khởi kiện , theo Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

Về diện và hàng thừa kế:

Cụ Hoàng Văn S mất năm 1979, tại thời điểm đó cụ Vũ Thị D và bẩy người con còn sống , theo Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế của cụ Hoàng Văn Sộp có tám người gồm: cụ Vũ Thị D, các ông bà: Hoàng Văn B, Hoàng Văn L, Hoàng Thị H, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị G, Hoàng Thị N.

Cụ Vũ Thị D mất năm 2010, theo Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế của cụ Vũ Thị D có bảy người con , gồm các ông bà : Hoàng Văn B, Hoàng Văn L, Hoàng Thị H, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị G, Hoàng Thị N.

Về nguồn gốc đất:

Mă ̣c dù trên sổ sách do đi ̣a phương quản lý thi ông

Hoàng Văn L là

̀ ngườ i kê khai thử a đất 259 có diện tích 454,7m2 trong đó ông Hoàng Văn L được cấp GCNQSDĐ 368m2 còn lại 86,7m2 là đất lưu không hành lang giao thông , căn cứ vào lời khai của chinh ông Hoàng Văn L và các nguyên đơn có cơ sở xác định

́ thử a đất này có nguồn gốc của cu ̣ Hoàng Văn S và cụ Vũ Thị D.

Căn cứ vào lờ i khai của các đương sự thi thử a đất

131 có diện tích

̀ 100m2 do cu ̣ Vũ Thị D kê khai trên hồ sơ quản lý đất đai của đi ̣a phương , trong đó cụ Vũ Thị D được cấp GCNQSDĐ 78m2 còn lại 22m2 là đất lưu không hành lang giao thông có cơ sở xác đi ̣nh thử a đất này có nguồn gốc của cu ̣ Hoàng Văn S , cụ Vũ Thị D.

Ngoài hai thử a đất trên , căn cứ vào lờ i khai của chinh các đương sự và

́ cung cấp của chinh quyền đi ̣a phương thi cu ̣ Hoàng Văn S , Vũ Thị D còn có hai

́

̀

thử a đất 132, 133 Tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T (trong đó thử a 132 có diê ̣n tich 106,5m2 và thửa 133 có diện tích 193,2m2), hai thử a đất này đa đượ̃

c

́ chuyển nhượng cho ngườ i khác . Theo các nguyên đơn trình bày hai thửa đất này do ông Hoàng Văn L chuyển nhượng cho ngườ i khác vào khoảng năm 1992- 1993 nhưng các nguyên đơn không có tài liê ̣u để chứ ng minh. Trong khi ông Hoàng Văn L không thừ a nhâ ̣n ông đa bã ́n mà ông trinh bày hai t hử a đất này do cu ̣ Vũ Thị D

̀

đa bã ́n cho ngườ i khác . Tại Sổ theo dõi quản lý của chính quyền địa phương năm 2010 thì hai thửa đất này đã được cấp GCHQSDĐ cho hai chủ khác , tại cột thứ năm của sổ đều ghi “mua di ̣nh“ . Hiê ̣n nay hai thử a đất này cũng đa đượ̃

c mua đi bán lại cho nhiều chủ . Như vâ ̣y, có căn cứ xác định cụ Vũ Thị D là người chuyển nhượng hai thử a đất này.

Từ phân tich ta ̣i mu ̣c [6.1], [6.2], [6.3] thì tài sản của cụ Hoàng Văn S và

́ Vũ Thị D bao gồm 04 thử a đất nêu trên và có tổng diê ̣n tich theo Sổ Mu ̣c kê và Tờ

́ Bản đồ năm 2005 là 854,4m2. Đây là tài sản chung của hai cu ̣ , theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì phần tài sản của mỗi cu ̣ trong khối tài sản chung là ½ và bằng 427,2m2 (854,4m2/2). Như phân tich ta ̣i mu ̣c

́ [6.3] thì cụ Vũ Thị D đa chuyển nhượ̃

ng hai thử a 132 và 133 có tổng diện tích là 299,7m2. Viê ̣c chuyển nhượng của cu ̣ Vũ Thị D là hợp pháp vì sau khi cụ Hoàng Văn S chết thi cu ̣ Vũ Thị D có toàn quyền định đoạt phần tài sản của cụ và diện

̀ tích cụ Vũ Thị D chuyển nhượng không vượt quá phần tài sản của cu ̣ trong khối tài sản chung vợ chồng. Như vâ ̣y, phần tài sản của cụ Vũ Thị D chỉ còn là 127,5m2 và phần tài sản của cu ̣ Hoàng Văn S là 427,2 m2. Vấn đề phải xem xét trong vụ án phần tài sản của mỗi cu ̣ sau khi hai cu ̣ chết có là di sản thừ a kế của hai cụ không?

Xét: Trên sổ sá ch quản lý đất đai ta ̣i đi ̣a phương cu ̣ Vũ Thị D kê khai và quản lý sử dụng thửa 131 có diện tích 100m2 (đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ 78m2, còn lại là đất hành lang giao thông ). Diê ̣n tich còn la ̣i ông Hoàng Văn L kê khai và

́

quản lý sử dụng thửa 294 có diện tích 454,7m2 (đa đượ̃

c cấp GCNQSDD 368m2, còn lại đất hành lang giao thông ). Ông Hoàng Văn L trình bày diện tích đất ông đang quản lý là do ông được cu ̣ Vũ Thị D cho từ năm 1982, nhưng như phân tich

́ trên diê ̣n tich đất của cu ̣ Vũ Thị D còn lại là còn 127,5m2 thì cụ đã kê khai 100m2

́ và làm thủ tục để được cấp GCNQSDĐ nên không còn đất để cho ông Hoàng Văn L. Nếu có chăng thi cu ̣ Vũ Thị D chỉ còn 27,5m2 đất nhưng ông Hoàng Văn L cũng

̀ không có tài liê ̣u để chứ ng minh cu ̣ Vũ Thị D cho ông, vì: Cụ Vũ Thị D không biết chữ, tài liệu trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ của cụ thì cụ điểm chỉ nhưng Biên bản xác định ranh giới , mốc giớ i trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn L ở phần chữ ký các chủ tiếp giáp la ̣i có chữ ký “Vũ Thị D “. Như vâ ̣y, diê ̣n tich đất

́ còn lại mà ông Hoàng Văn L kê khai chinh là tài sản của cu ̣ Hoàng Văn S. Trong

́

hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn L cũng không có tài liệu nào thể hiện cụ Hoàng Văn S cho ông Hoàng Văn L diê ̣n tich đất này. Nếu cho rằng cu ̣ Vũ Thị

́

D cho ông Hoàng Văn L thì cụ Vũ Thị D không có quyền đi ̣nh đoa ̣t đối vớ i diê ̣n tích này vì đây là tài sản của cụ Hoàng Văn S, sau khi cu ̣ Hoàng Văn S mất nếu cu ̣ Vũ Thị D đi ̣nh đoa ̣t phải có ý kiến của tất cả các thừ a kế của cu ̣ Hoàng Văn S, hiê ̣n các thừa kế đều không thừa nhận đã đồng ý cho ông Hoàng Văn L phần di sản của cụ Hoàng Văn S. Từ phân tich trên, tài sản của cụ Vũ Thị D là 127,5m2 đất và tài

́ sản của cụ Hoàng Văn S là 427,2 m2 sau khi hai cu ̣ chết se lã ̀ di sản thừ a kế của hai cụ. Hai thử a đất trên đa được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T cấp GCNQSDĐ cho cu ̣ Vũ

̃ Thị D là 78m2, và ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T là 368m2 (tổng diê ̣n tich hai thử a

́ đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ là 446m2), còn lại 108,7m2 là đất lưu không hành lang giao thông (theo sơ đồ hiê ̣n trong sử du ̣ng đất kèm theo Biên bản xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ ngày 13 tháng 6 năm 2019 thì diện tích lưu không hành lang giao thông của thử a 131 và 294 là 129,2m2). Các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của hai cu ̣ là 554,7m2 đất nhưng ta ̣i Văn bản ngày 25 tháng 9 năm 2019 Ủy ban nhân dân huyê ̣n T có ý kiến: “Diê ̣n tich đất lưu không hà nh lang giao thông của

́

hai thử a đất 131 và 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, Huyê ̣n T sau nà y Nhà nước mở rộng đường sẽ thực hiện công tác đền bù , giải phóng mặt bằ ng. Trong quá trình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng , cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền căn cứ và o hồ sơ tà i liê ̣u và quy đi ̣nh của phá p luật để xem xé t

, xác định phần diê ̣n tich đất đó là loại đất gi “. Như vâ ̣y, hiê ̣n nay đối vớ i phần diê ̣n tich đất

́

̀

́ lưu không, hành lang giao thông cơ quản có thẩm quyền quản lý đất đai chưa xác đi ̣nh loa ̣i đất gi nên chưa có căn cứ để giải quyết trong vu ̣ án này . Vì vậy chỉ chấp

̀ nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu củ a các nguyên đơn chia di sản thừ a kế của cu ̣ Hoàng Văn S và Vũ Thị D là diện tích 446m2 đa đượ̃

c Nhà Nướ c công nhâ ̣n và cấp GCNQSDĐ, trong đó của cu ̣ Hoàng Văn S là 368m2 thử a 294 và cụ Vũ Thị D là 78m2 thử a 131, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng . Đối với diện tích đất lưu không , hành lang giao thông được tách ra giải quyết bằng vụ án khác sau khi Nhà nướ c mở rô ̣ng đườ ng xác đi ̣nh được loa ̣i đất nếu các đương sự có yêu cầu.

Phân chia di sản thừ a kế của cụ Hoàn Văn S : Như trên phân tich thi hàng

́

̀ thừa kế thứ nhất của cụ Hoàng Văn S có tám người gồm cụ Vũ Thị D và bảy người con. Di sản thừ a kế của cu ̣ Hoàng Văn S do vợ chồng ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T quản lý, trông coi, làm nghĩa vụ với nhà nước từ năm 1982 nên tính công sức cho vợ chông ông Hoàng Văn L bằng mô ̣t suất thừa kế . Do vậy cụ Vũ Thị D, ông Hoàng Văn B , các bà Hoàng Thị G , Hoàng Thị H , Hoàng Thị B , Hoàng Thị T , Hoàng Thị N mỗi người được hưởng 40,8m2 (368m2/9), Ông Hoàng Văn L được hưởng suất thừ a kế và công sứ c là 81,6m2 (40,8m2 x 2).

Phân chia di sản thừ a kế của của cụ Vũ Thị D: Phần di sản của cu ̣ Vũ Thị D gồm di sản của cụ và phần di sản cụ được hưởng của cụ Hoàng Văn Sộp là 118,8m2 (78m2 + 40,8m2). Như trên phân tích hàng thừa kế của cụ Vũ Thị D gồm bẩy người con . Do vâ ̣y , các ông bà Hoàng Văn B , Hoàng Văn L , Hoàng Thị G,Hoàng Thị H, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N mỗi người được hưởng 17m2 (118,8m2/7).

Sau khi phân chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Văn S, cụ Vũ Thị D thì:

Các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị H, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N mỗi người được hưởng 57,8 m2 (40,8m2 + 17 m2).

Ông Hoàng Văn L được hưởng 98,6 m2 (81,6 +17), bao gồm cả phần công sứ c của vợ chồng ông và phần di sản ông được hưở ng của hai cu ̣.

Các nguyên đơn đề nghị được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, xét diện tích đất rô ̣ng, trên phần đất ông Hoàng Văn L , bà Bùi Thị T quản lý vẫn còn đất trống nên chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ của các nguyên đơn . Các bà Hoàng Thị H, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N thống nhất giao kỷ phần thừa kế minh được hưở ng cho ông Hoàng

̀ Văn B và bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý. Trong đó cho bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị B tiếp quản lý , sử du ̣ng thử a 131 (diê ̣n tich đất này hiê ̣n bà Hoàng Thị

́ G, bà Hoàng Thị B đang quản lý), phần di sản thừ a kế c òn lại giao cho ông Hoàng Văn B quản lý. Xét đây là sự tự nguyện của các bà bà Hoàng Thị H, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận . Như vâ ̣y, ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý, sử dung 346,8m2 đất (57,8 m2 x 6).

Phân chia bằng hiện vật: Theo sơ đồ thử a đất kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 6 năm 2016 thì bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị B đang quản lý , sử du ̣ng 99m2, còn vợ chồng ông Hoàng Văn L quản lý, sử du ̣ng 347m2. Để không làm xáo trô ̣n cuô ̣c sống sinh hoa ̣t và không ảnh hưở ng đến công trình vật kiến trúc mà hai bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B cũng như vợ chồng ông Hoàng Văn L đang sử du ̣ng thi:

̀

- Chia cho hai bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý, sử du ̣ng 99m2 đất thử a 131, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thướ c, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T quản lý, sử du ̣ng 217m2 đất ta ̣i thử a 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thướ c, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho ông Hoàng Văn B quản lý sử dụng 130m2 đất, tại thửa 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thước, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo ). Diê ̣n tich đất này hiê ̣n do gia đinh ông Hoàng Văn L bà

́

̀ Bùi Thị T đang quản lý sử du ̣ng nên buô ̣c gia đinh ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T

̀

phải di rời cây trồng, vâ ̣t kiến trúc để trả la ̣i 130m2 đất cho ông Hoàng Văn B.

- Sau khi phân chia bằng hiê ̣n vâ ̣t thi phần hiê ̣n vâ ̣t giao cho gia đinh ông

̀

̀ Hoàng Văn L quản lý, sử du ̣ng vượt quá phần di sả n thừ a kế ông Hoàng Văn L được hưở ng là 118,4m2 nên ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T phải thanh toán chênh lê ̣ch cho các nguyên đơn do ông Hoàng Văn B đa ̣i diê ̣n tri ̣ giá 118,5m2 đất. Theo kết quả đi ̣nh giá , vị trí đất tranh chấp có giá thị trường tại thời điểm xét xử là 4.500.000đồng/m2. Do vâ ̣y ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T phải thanh toán bằng tiền cho ông Hoàng Văn B là 532.800.000 đồng.

Xét yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AN 494290 ngày 26 tháng 12 năm 2006 do Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T cấp cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T đối vơi thử a

́ 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng : Như trên phân tich ông Hoàng Văn L trình bày ông được cụ Vũ Thị D cho diê ̣n tich đất này

́

́ nhưng phần tài sản của cu ̣ trong khối tài sản chung vợ chồng cu ̣ Vũ Thị D đa bã ́n mô ̣t phần cho ngườ i khác phần còn la ̣i cu ̣

Vũ Thị D đa kê khai vã

̀ được cấp GCNQSDĐ, còn phần tài sản ông Hoàng Văn L đang quản lý chinh là di sản của

́ cụ Hoàng Văn S, mô ̣t minh cu ̣ Vũ Thị D không có quyền đi ̣nh đoa ̣t phần di sản của

̀ cụ Hoàng Văn S . Ông Hoàng Văn L không có tài liê ̣u gi chứ ng minh cu ̣ Hoàng

̀ Văn S cho ông diê ̣n tich đất này . Vì vậy, mă ̣c dù ta ̣i thờ i điể m cấp GCNQSDĐ ,

́ ông Hoàng Văn L đang là ngườ i quản lý , kê khai nhưng không có ý kiến của các thừ a kế của cu ̣ Hoàng Văn S thì việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T là chưa đúng quy định của phá p luâ ̣t nên cần phải hủy GCNQSDĐ này.

Xét yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AH 288592 ngày 27 tháng 11 năm 2006 do Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T cấp cho ba Vũ Thị D đối vơi thử a 131, tơ bản đồ số

̀

́

̀ 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng: Như trên phân tich thi diê ̣n tich

́

̀

́ đất ma Ủ y ban nhân dân huyê ̣n T cấp cho cu ̣ Vũ Thị D không vượt qua phần tai

̀

́

̀ sản của cụ trong khối tài sản chung vợ chồng nên việc cấp GCNQSDĐ cho cụ Vũ Thị D là đúng quy định của pháp luật nên không cần thiết phải hủy GCNQSDĐ này. Tuy nhiên theo như phân tich trên thi thử a đất này được giao cho bà Hoàng

́

̀

Thị G, Hoàng Thị B quản lý, sử du ̣ng có diê ̣n tich đất thực tế theo sơ đồ thử a đất

́

kèm theo Biên bản xem xét th ẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 6 năm 2016 là 99m2, do vâ ̣y Ủy ban nhân dân huyện T sau này khi cấp la ̣i GCNQSDĐ hay chinh lỷ

́ sang tên đối vớ i thử a này thi cần lưu ý về diê ̣n tich đất.

̀

́

Về các chi phí tố tụng xem xét thẩm định và định giá tài sản: Các nguyên đơn đa nô ̣̃ p đủ và không yêu cầu các đương sự khác phải hoàn trả nên Hô ̣i đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị B thuô ̣c đối tượng được miễn án phi , căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

́ ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phi dân

́ sự sơ thẩm cho các ông baHoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B.̀

- Ông Hoàng Văn L thuô ̣c đối tượng ngườ i cao tuổi nhưng ông không có đơn xin miễn giảm án phi theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều

14 của Nghị quyết

́ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên vẫn buô ̣c ông Hoàng Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mứ c tương ứ ng vớ i giá tri ̣ tài sản được hưởng trong khối di sản thừa kế.

- Các bà Hoàng Thị H, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N mỗi ngườ i phải chi ̣u án phi

́ dân sự sơ thẩm theo mứ c tương ứ ng vớ i giá tri ̣ tài sản được hưở ng trong khối di sản thừa kế.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có mặt, các đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 658, Điều 660, điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của các ông bà

Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H, Hoàng Thị N về chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Văn S và Vũ Thị D đối vớ i 446m2 đất thửa đất 294 và 131, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng. Cụ thể:

- Các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H, Hoàng Thị N mỗi ngườ i được hưở ng 57,8 m2 đất.

- Ông Hoàng Văn L, bà Bùi Thị T được hưở ng 98,6 m2 (trong đó có 57,8 m2 đất là di sản thừa kế ông Hoàng Văn L được hưở ng và 40,8m2 đất là công sứ c của vợ chồng ông).

2. Chấp nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n các bà Hoàng Thị H, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N thống nhất giao kỷ phần thừa kế minh được hưở ng cho ông Hoàng Văn B và bà

̀

Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý.

3. Phân chia cu ̣ thể bằng hiê ̣n vâ ̣t:

- Chia cho hai bà Hoàng Thị G, Hoàng Thị B quản lý, sử du ̣ng 99m2 đất, thử a 131, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thướ c, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T quản lý, sử du ̣ng 217m2 đất ta ̣i thử a 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thước, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho ông Hoàng Văn B quản lý, sử du ̣ng 130m2 đất, tại thử a 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng (vị trí, kích thước, mốc giớ i có sơ đồ kèm theo ). Diê ̣n tich đất này hiê ̣n do gia đinh ông Hoàng Văn L bà

́

̀ Bùi Thị T đang quản lý sử du ̣ng nên buô ̣c gia đinh ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T

̀

phải di rời cây trồng, vâ ̣t kiến trúc để trả la ̣i 130m2 đất cho ông Hoàng Văn B.

- Buô ̣c ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T phải thanh toán chênh lệch trị giá tài sản được hưởng cho ông Hoàng Văn B là 532.800.000 đồng (năm trăm ba mươi hai triê ̣u tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Tách phần đất lưu không , hành lang giao thông 108,7m2 (theo sơ đồ hiê ̣n trong sử du ̣ng đất kèm theo Biên bản xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ ngày 13 tháng 6 năm 2019 là 129,2m2) sau này giải quyết bằng vu ̣ án khác sau khi Nhà nướ c mở rô ̣ng đườ ng xác đi ̣nh được loa ̣i đất nếu các đương sự có yêu cầu.

5. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 494290 ngày 26 tháng 12 năm 2006 do Ủ y ban nh ân dân huyê ̣n T cấp cho ông Hoàng Văn L bà Bùi Thị T đối vớ i thử a 294, tờ bản đồ số 11, thôn BX, xã N, huyê ̣n T, thành phố Hải Phòng.

6. Về chi phi xem xét thẩm đi ̣nh và đi ̣nh giá: các đương sự đã nộp đủ.

́

7. Về án phi dân sự sơ thẩm:

́

Miễn toàn bô ̣ án phi dân sự sơ thẩm cho các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị

́ G, Hoàng Thị B.

Ông Hoàng Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.005.000 đồng (mườ i ba triê ̣u không trăm linh năm nghìn đồng).

Các bà Hoàng Thị N, Hoàng Thị T, Hoàng Thị H mỗi ngườ i phải chi ̣u án phi

́ dân sự sơ thẩm là 13.005.000 đồng (mườ i ba triê ̣u không trăm linh năm nghìn đồng). Mỗi ngườ i được trừ 2.400.000 đồng số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm

́ đa nô ̣̃ p theo B iên lai số 0011280, Biên lai số 0011278, Biên lai số 0011279 ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Các bà Hoàng Thị N, Hoàng Thị T , Hoàng Thị H mỗi ngườ i còn phải nô ̣p 10.605.000 đồng (mườ i triê ̣u sáu trăm linh năm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Các ông bà Hoàng Văn B, Hoàng Thị G, Hoàng Thị H, Hoàng Thị B, Hoàng Thị T, Hoàng Thị N được quyền kháng cáo bản án trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Hoàng Văn L, bà Bùi Thị T, anh Hoàng Văn T, Ủy ban nhân dân huyện T, Văn phòng Đăng ký đất đai T được quyền kháng cáo bản án trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n bản án hoă ̣c bản án được niêm yết hợp lê ̣.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ