- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Liên Việt - Lê Phủ Hậu"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2019/DS-ST Ngày: 26/11/2019 V/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng". |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Thanh Huỳnh.
2. Ông Nguyễn Hoàng Thái.
- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy: Ông Nguyễn Hoài Nam
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2019/TLST-DS, ngày 31 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-DS ngày 07/11/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A.
Địa chỉ: Số MKC, THĐ, phường CN, HK, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S; chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T; chức vụ: Giám đốc – Chi nhánh Hậu Giang.
Ủy quyền lại cho ông Dương Ngọc A; chức vụ: Chuyên viên khách hàng Phòng giao dịch TPT. (Có mặt).
Địa chỉ: Số BMT, quốc lộ MA, thị trấn CT, CT A, Hậu Giang.
Bị đơn: Lê Phủ H, sinh năm 1974. (Vắng mặt).
Trú tại: Ấp SP 2, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông Lê Phủ H có vay của Ngân hàng A số tiền 220.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 0114015CT002L3 ngày 22 tháng 7 năm 2016. Số tiền vay: 220.000.000đ; mục đích vay: Tiêu dùng và phục vụ phát triển kinh tế gia đình; ngày giải ngân: 22/7/2016; thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất trong hạn: 10,6% từ ngày 22/7/2016 đến ngày 21/7/2017. Sau ngày 21/7/2017 áp dụng lãi suất thả nổi định kỳ điều chỉnh 3 tháng/lần theo quy định của Ngân hàng A. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; hình thức cho vay: Tín chấp.
Từ khi vay đến nay ông Lê Phủ H đã trả được tiền vốn là 62.390.000đ. Tính đến ngày 26 tháng 11 năm 2019 ông Lê Phủ H còn nợ tiền vốn là 157.610.000đ; tiền lãi trong hạn là 46.555.843đ; tiền lãi quá hạn là 13.785.957đ. Nay phía Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Phủ H phải trả số tiền vay còn nợ tổng cộng là: 217.951.801đ (Trong đó tiền vốn là 157.610.000đ; lãi suất là 60.341.801đ). Ngoài ra, ông Lê Phủ H phải tiếp tục trả lãi/vốn còn nợ theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết tính từ ngày 27/11/2019 cho đến khi hết nợ.
Từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết tất cả các văn bản tố tụng cho ông Lê Phủ H nhưng ông Lê Phủ H vẫn vắng mặt; không cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến cho rằng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành tốt quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành tốt quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngân hàng A khởi kiện ông Lê Phủ H cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng vay tiền, mục đích vay là tiêu dùng và phục vụ phát triển kinh tế gia đình nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng và bị đơn cư trú tại ấp SP 2, xã TT, thị xã NB nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Đối với bị đơn Lê Phủ H theo biên bản xác minh ngày 31/01/2019 thì bị đơn Lê Phủ H hiện tại vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp SP 2, xã TT, thị xã NB nhưng đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, không trình báo nơi ở mới cho Công an xã TT được biết. Căn cứ vào Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Lê Phủ H.
Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 0114015CT002L3 ngày 22/7/2016 của nguyên đơn cung cấp có sự xác nhận và chữ ký của bị đơn thể hiện: Bị đơn có vay của Ngân hàng A số tiền 220.000.000đ. Mục đích vay: Tiêu dùng và phục vụ phát triển kinh tế gia đình; ngày giải ngân: 22/7/2016; thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất trong hạn: 10,6% từ ngày 22/7/2016 đến ngày 21/7/2017. Sau ngày 21/7/2017 áp dụng lãi suất thả nổi định kỳ điều chỉnh 3 tháng/lần theo quy định của Ngân hàng A. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; hình thức cho vay: Tín chấp.
Bị đơn sau khi ký kết hợp đồng tín dụng với nguyên đơn đã nắm rõ các quyền lợi và nghĩa vụ bị đơn phải thực hiện nhưng từ đó đến nay bị đơn đã không thực hiện đúng theo hợp đồng. Nguyên đơn tiến hành khởi kiện mặc dù Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về cấp tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không có mặt, không trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy nguyên đơn khởi kiện đã cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình và hiện nay số nợ vay đã quá thời gian thỏa thuận theo hợp đồng mà phía bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm hợp đồng.
Cụ thể nợ gốc: 157.610.000đ; tiền lãi trong hạn là 46.555.843đ; tiền lãi quá hạn là 13.785.957đ. Tổng cộng: 217.951.801đ.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ bao gồm tiền gốc, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là có cơ sở chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A. Buộc bị đơn ông Lê Phủ H phải trả cho Ngân hàng A tổng số tiền là 217.951.801đ (Hai trăm mười bảy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn tám trăm lẻ một đồng). Trong đó, tiền gốc: 157.610.000đ (Một trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng); tiền lãi trong hạn là 46.555.843đ (Bốn mươi sáu triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi ba đồng); tiền lãi quá hạn là 13.785.957đ (Mười ba triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng).
Bị đơn tiếp tục trả lãi trên nợ gốc (vốn) từ ngày 27/11/2019 đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất tính theo hợp đồng tín dụng số 0114015CT002L3 ngày 22/7/2016 của Ngân hàng A chi nhánh Hậu Giang – Phòng Giao dịch TPT với ông Lê Phủ H tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Phủ H phải nộp số tiền là 10.897.590đ (Mười triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm chín chục đồng). Nguyên đơn Ngân hàng A được nhận lại 4.660.000đ (Bốn triệu sáu trăm sáu chục nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0019075 ngày 25/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND TX. Ngã Bảy; - Những người tham gia tố tụng; - THA dân sự TX. Ngã Bảy; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Kim Cƣơng |