vanban.org

Bản án 25/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 20/10/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 25/2018/HSST
Ngày: 31-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm.

2. Ông Nguyễn Văn Nông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Vào các ngày 30, 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 394/2017/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2017, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Thanh H, sinh năm 1994, tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm L, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Bá T, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1997 (đã đám cƣới nhƣng chƣa đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh ngày 27/9/2017; bị cáo có 02 anh, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/10/2017 cho đến nay. (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Võ Quang P, sinh năm 1990; (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Xóm H, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

Chỗ ở: Đƣờng H, khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993; (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

Chỗ ở: Phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Trà Thanh S, sinh năm 1996. (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Khu phố Đ, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phan Thanh H là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 19/10/2017, H làm quen với ngƣời thanh niên tên L trên mạng xã hội facebook. Sau khi L giới thiệu có bán ma túy đá, H hỏi mua 2.000.000 đồng thì L đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu vực bến xe L thuộc phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H đến bến xe gặp L mua 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá giá 2.000.000 đồng. Sau đó, H đón xe ôm về nhà Võ Quang P ở đƣờng H, khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng P không có ở nhà nên H vào nhà P nằm chờ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H lấy ma túy vừa mua đƣợc ra sử dụng, còn lại H cất trong hộp quẹt Zippo và để dƣới tấm nệm trong phòng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Q đến nhà P chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 20/10/2017, P đi làm về, H lấy ma túy đá cho P và Q cùng sử dụng chung và đem cất ma túy lại dƣới nệm. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phƣờng A kiểm tra nơi ở của Võ Quang P, phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá nên yêu cầu những ngƣời có mặt trong phòng giao nộp ma túy. H giao nộp số ma túy trong hộp quẹt Zippo để dƣới tấm nệm, công an tiến hành lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang đối với H.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, H khai nhận là ma túy đá; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 hộp quẹt Zippo màu vàng.

Căn cứ Kết luận giám định số 486/MT-PC54 ngày 25/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M1) là ma túy, có trọng lƣợng 2,1866 gam, loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định là 1,9784 gam).

- Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M2) là ma túy, có trọng lƣợng 0,4101 gam, loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,2435 gam).

Ngày 29/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Phan Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đối với ngƣời thanh niên tên L đã bán ma túy cho Phan Thanh H, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Võ Quang P và Nguyễn Văn Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thông báo về chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú để quản lý, giáo dục.

Tại bản cáo trạng số 17/QĐ – KSĐT ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Phan Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, có con nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phan Thanh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 486/PC54 bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, tổng trọng lƣợng ký hiệu M1, M2 còn lại sau giám định là 2,2219g; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp quẹt Zippo màu vàng là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà, ngƣời làm chứng Võ Quang P, Nguyễn Văn Q và Trà Thanh S vắng mặt. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh H khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/10/2017, H đến bến xe L thuộc phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng gặp ngƣời thanh niên tên L mua 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá giá 2.000.000 đồng. Sau đó, H đón xe ôm về nhà Võ Quang P ở đƣờng H, khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng P không ở nhà nên H vào nhà P nằm chờ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H lấy ma túy vừa mua đƣợc ra sử dụng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Q đến nhà P chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 20/10/2017, P đi làm về, H lấy ma túy đá cho P và Q cùng sử dụng, số ma túy còn lại H bỏ vào hộp quẹt Zippo đem cất dƣới nệm. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phƣờng A kiểm tra nơi ở của Võ Quang P, H đã giao nộp số ma túy cất giữ trong hộp quẹt Zippo, công an lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang đối với H.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 hộp quẹt Zippo màu vàng.

Căn cứ Kết luận giám định số 486/MT-PC54 ngày 25/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon hàn kín (ký hiệu M1, M2) là ma túy, có tổng trọng lƣợng 2,5967 gam, loại Methamphetamine (tổng trọng lƣợng còn lại sau giám định là 2,2219 gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định số 486/MT-PC54 ngày 25/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phan Thanh H đã vi phạm vào Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 17/QĐ – KSĐT ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố Phan Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.

Tính chất, mức độ của hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, có con nhỏ, là ngƣời lao động.

Do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hùng thực hiện sau thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc công bố (ngày 03/7/2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, cần xem xét áp dụng khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hƣớng có lợi cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thanh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 486/PC54 bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, tổng trọng lƣợng ký hiệu M1, M2 còn lại sau giám định là 2,2219g; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 hộp quẹt Zippo màu vàng là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 20/10/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 2,2219g tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, chứa trong bì thƣ đƣợc niêm phong số 486MT/PC54, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 hộp quẹt Zippo màu vàng.

Vật chứng Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/12/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phan Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ