- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy dịnh về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hà Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HSST Ngày 28/9/2018 |
Nh©n danh
NƯíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn thƯêng Xu©n, tØnh thanh ho¸
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Thị Tâm
Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân Anh và bà Hà Thị Hòa
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên toà: Ông: Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2018/HSST ngày 31/8/2018; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Hà Văn T, sinh ngày 08/01/1965
Nơi cư trú tại: Thôn T.C (H. N), xã L, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; con ông: Hà Văn C (đã chết); con bà Lò Thị C, có vợ Hà Thị T; có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa). +ng êi bµo ch÷a cho BỊ c¸o HÀ VĂN TIẾN: Bà: Hà Thị Nhàn -Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp số 6 – Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hoá. (có mặt). + NGƯỜI BỊ HẠI: Ông Hà Văn H (đã chết), +ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI BỊ HẠI ÔNG HÀ VĂN HIẾM: Anh Hà Văn T, sinh năm: 1968 (con trai ông Hiếm) Trú tại: Thôn X.T, xã X. C, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá (có đơn xin xét xử vắng mặt). + NHỮNG NGƯỜI LÀM CHỨNG: 1. Anh Hà Văn N, sinh năm: 1990 (vắng mặt); 2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1971 (vắng mặt); 3. Anh Lê Trung K, sinh năm: 1987 (vắng mặt); 4. Anh Trần Ngọc C ( B), sinh năm: 1989 (vắng mặt); 5. Anh Lê Tiến S, sinh năm: 1976 (vắng mặt); 6. Anh Lê Văn T, sinh năm: 1984 (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2018, Hà Văn T, sinh năm 1965, trú tại thôn T. C, xã L. K, huyện Thường Xuân, mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M1- 03676 của con trai Hà Văn N, sinh năm 1990 ở cùng thôn đi đến gia đình anh Cầm Bá H, sinh năm 1971 ở thôn Xuân M, xã X để dự liên hoan đám cưới. Hà Văn T chở ông Hà Văn H, sinh năm 1949 ở thôn X, xã X1 là bố vợ T đi cùng. Đến khoảng 20giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm đám cưới xong T và ông Hà Văn H về; đi đến km 01+ 0.8, tỉnh lộ 519 thuộc địa phận khu 1, thị trấn Thường Xuân, Hà Văn T phát hiện thấy chiếc xe ô tô đang đi cùng chiều phía trước, nhưng do khoảng cách quá gần và không làm chủ được tay lái nên T đã đâm vào phía sau bên lái xe ô tô tải, biển kiểm soát 36C- 052.92 do anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 ở thôn M, xã T.X, huyện Thọ Xuân điều khiển. Hậu quả làm ông Hà Văn H bị thương và tử vong trên đường đi đến Bệnh viện đa khoa huyện Thường Xuân cấp cứu, Hà Văn T bị thương được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị đến ngày 08/5/2018 thì ra viện.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại Km 01+ 0.8, tỉnh lộ 519, địa phận khu 1, thị trấn Thường Xuân. Đoạn đường không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rải nhựa phẳng, lòng đường rộng 8,5m, không có dãi phân cách. Chọn lề đường bên trái hướng bắc làm lề chuẩn, chọn cột điện số ký hiệu 21AT1 làm điểm định vị; Trục đường 519 theo hướng đi từ tây sang Đông từ xã X.C đi thị trấn Thường Xuân làm chiều khám nghiệm. Cách điểm cố định 25,5m về phía đông có 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 36C- 1036.76 đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay phía Đông, trục trước bên trái cách lề chuẩn 4,1m; trục sau bên lái cách lề chuẩn 5m, cách điểm định vị 24,4m; mặt lăn bánh trước xe mô tô bám với mặt lăn bánh sau xe ô tô biển kiểm soát 36C- 052.92.
Xe ô tô biển kiểm soát 36C- 052.92, đầu xe ô tô quay về hướng đông; trục sau bên lái cách lề chuẩn 4m, cách điểm cố định 26,2m, cách trục trước xe mô tô 80cm; trục trước bên lái cách lề chuẩn 3,9m.
01 tổ hộp dấu vết sinh học màu đỏ thẳm (máu người) kích thước 80x60cm, tâm máu cách lề chuẩn 3,32 m, cách trục trước bên phải xe mô tô 1,25 cm và cách điểm cố định 24,59m.
* Khám nghiệm phương tiện:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36M1- 803676: Toàn bộ đồng hồ công tơ mét, cụm đèn pha, đèn sinh nhan hai bên phải trái, mặt nạ ốp nhựa bị vỡ, gãy, biến dạng xô đẩy theo chiều hướng từ trước về sau. Cánh yếm xe hai bên, vành xe bánh trước bị bong bật khỏi vị trí ban đầu. Ốp nhựa chắn bùn phía trước có vết tì trước kích thước 10 x 6cm, bong tróc sơn chiều hướng từ trước về sau và ốp cao su, giá đỡ chân trước bên trái bị rách chòi mút kim loại, chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới; mặt bên phía sau xe mô tô dính màu đỏ thẳm, dạng máu kích thước 70 x 45 cm.
Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 36C- 05292, mặt ngoài cạnh dưới thanh kim loại gắn nắp thùng phía sau bên lái có vết tì kích thước 10 x 15 cm, vết có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước, bề mặt bán chất dính màu nâu (dạng máu). Tâm cạnh góc vuông ngoài cùng bên trái thùng xe ô tô 45cm, vết cao su so với mặt đất 1,4m đến 1.5m. Mặt ngoài thanh kim loại báo hiệu bên trái bị xô đẩy cong vênh theo chiều hướng từ sau về trước và bung bật đèn sinh nhan, vết cao so với mặt đất 1,1m. Mặt ngoài tấm cao su chắn lốp phía sau bên lái có nhiều vết tì trượt làm sạch bụi đất và bán dính chất màu đỏ dạng sơn kích thước 30 x 25 cm chiều hướng từ sau về trước, vết cao so với mặt đất 57 đến 80cm Hệ thống điều khiển, như phanh còn tác dụng, đèn, còi, xi nhan còn hiệu lực.
* Khám nghiệm tử thi:
Tại kết luận số 891/KL- GĐPY- PC54 ngày 30/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận nguyên nhân dẫn đến ông Hà Văn H chết là : “Vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, tụ máu lan tỏa màng mềm”.
Trong giai đoạn điều tra: Công ty TNHH XD & ĐT thương mại 68 đã hỗ trợ mai táng phí cho gia đình người bị hại ông Hà Văn H số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo Hà Văn T đã tự nguyện, thỏa thuận bồi thường chi phí mai táng phí số tiền là 10.000.000 đồng, gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án là 01 ô tô biển kiểm soát 36C- 05292 của Công ty TNHH XD & ĐT thương mại 68, 01chiếc mô tô biển kiểm soát 36M1- 03676 của anh Hà Văn N cho Hà Văn T mượn, cơ quan điều tra lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSTX ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân truy tố Hà Văn T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hà Văn Tiến phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bị cáo phạm tội lần đầu do lỗi vô ý; tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện, khắc phục hậu quả cho người bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hà Văn T từ 12 (mười hai.) đến 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng.
Về phần bồi thường dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu
cầu gì thêm nên không xem xét.
*Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T có quan điểm bào chữa cho rằng: Đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Tiến là người có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa thấp, ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 10.000.000 đồng và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, kho¶n 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 §iÒu 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS, Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên phạt bị cáo một mức án phù hợp.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành đều hợp pháp.
. Về nội dung của vụ án:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T đã khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2018, Hà Văn T mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M1- 03676 của con trai Hà Văn N, ở cùng thôn đi đến gia đình anh Cầm Bá H ở thôn X. M, xã X. C để dự liên hoan đám cưới. Bị cáo Hà Văn T chở ông Hà Văn H, ở thôn X. T, xã X.C là bố vợ T đi cùng. Đến khoảng 20giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm đám cưới xong T và ông Hà Văn H ra về; đi đến km 01+ 0.8, tỉnh lộ 519 thuộc địa phận khu 1, thị trấn T. X, Hà Văn T phát hiện thấy chiếc xe ô tô đang đi cùng chiều phía trước, nhưng do khoảng cách quá gần và không làm chủ được tay lái nên bị cáo T đã đâm vào phía sau bên lái xe ô tô tải, biển kiểm soát 36C- 052.92 do anh Nguyễn Văn D điều khiển. Hậu quả làm ông Hà Văn H bị thương và tử vong trên đường đi đến Bệnh viện đa khoa huyện Thường Xuân cấp cứu, Hà Văn T bị thương được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị đến ngày 08/5/2018 thì ra viện.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố.
. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp phạm nghiêm trọng.Vụ án xảy ra trên tuyến đường Km 01 + 0.8, tỉnh lộ 519 thuộc địa phận khu 1, thị trấn T.X, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Trong tình hình hiện nay, ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của một bộ phận không nhỏ những người tham gia giao thông còn hạn chế. Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Mặt khác, tình trạng tai nạn giao thông trên địa bàn huyện Thường Xuân trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không làm chủ được tốc độ, đi lấn phần đường, nên đã đâm vào sau xe ô tô đi cùng chiều chiều gây hậu quả rất nghiêm trọng. Hậu quả là ông Hà Văn H ngồi sau xe của bị cáo T ngã ra đường, nằm bất động, tuy đã được đi cứu chữa kịp thời nhưng ông Hiếm đã tử vong, bị cáo T bị thương phải đi điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm vào Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Tốc độ và khoảng cách giữa các xe”, cấu thành đầy đủ tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương ứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo.
. Xét về nhân thân; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo. Vì vậy khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các quy định cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Với tính chất vụ án; hành vi phạm tội và nhân thân; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là không cần thiết, mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đủ, giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.
. Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH XD & ĐT thương mại 68 đã hỗ trợ mai táng phí cho gia đình người bị hại ông Hà Văn H số tiền 10.000.000 đồng; Bị cáo Hà Văn T và gia đình của người bị hại Hà Văn H đã tự nguyện, thỏa thuận bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại với số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng), đại diện gia đình của người bị hại đã nhận đầy đủ số tiền và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Hà Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt: Hà Văn T 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2018). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L. K, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo ”. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2018). Đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; -VKSND huyện Thường Xuân; - Công an huyện Thường Xuân; - Chi cục THADS huyện Thường Xuân; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Đại diện hợp pháp của người bị hại; - Lưu HS vụ án | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Thị Tâm |