vanban.org

Bản án 25/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chu Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên bố tịch thu tiêu hủy: Một (01) phong bì của Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chu Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2018/HSST
Ngày 26 tháng 7 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Phú

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Trung

2. Ông Lê Thanh Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Nam Đàn

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/HSST ngày 10/7/2018 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Chu Văn Đ - Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1990 tại xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 09/12. Con ông Chu Văn N (chết) và bà Trần Thị H. Vợ con: Vang Thị T – sinh năm 1997 và chưa có con. Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2018 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 05/6/2018, Chu Văn Đ đón xe ôm từ nhà đi vào bản Đ thuộc xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông không quen biết một túi ni lông ma túy với giá 5.000.000 đồng. Sau đó Đ đưa số ma túy trên về nhà và đếm được 180 viên nén màu đỏ, 02 viên nén màu xanh. Chu Văn Đ đã gói lại số ma túy trên vào bao ni lông, cất vào túi quần của mình rồi đón xe khách đi xuống huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An để chơi nhà bạn. Khi đến ngã ba quê Nội, thuộc xóm Sen 01, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn thì Chu Văn Đ xuống xe khách rồi vào quán bên đường ngồi uống nước. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi Chu Văn Đ từ quán đi ra bắt xe để xuống huyện Hưng Nguyên thì bị tổ công tác của Công an huyện Hưng Nguyên tiến hành khám xét, bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ trong túi quần của Đ một túi ni lông chứa 180 viên nén màu đỏ, 02 viên nén màu xanh (nghi là ma túy tổng hợp) và 01 chiếc điện thoại di động HUAWEI màu trắng bạc.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 06/6/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và tại Kết luận giám định số 747/KL-PC54 (MT) ngày 07/6/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: “Mẫu viên nén hình tròn màu đỏ (ký hiệu M1) và mẫu viên nén hình tròn màu xanh (ký hiệu M2) thu giữ của Chu Văn Đ gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). 180 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 18,025gam”.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ của Chu Văn Đ 180 viên nén hình tròn màu đỏ, 02 viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) và 01 chiếc điện thoại di động HUAWEI màu trắng bạc. Sau khi lấy mẫu vật đi giám định còn 170 viên nén hình tròn màu đỏ, 01 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 16,94gam.

Tại cơ quan điều tra, Chu Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 28/NĐ-VKS ngày 10/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố: Chu Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Chu Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó,Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Chu Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt Chu Văn Đ từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 170 viên nén màu đỏ, 01 viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 16,94gam. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu trắng bạc. Về án phí và quyền kháng cáo: đề nghị tuyên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin giảm giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở để kết luận Chu Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào khoảng 19 giờ ngày 05/06/2018, tại ngã 3 quê Nội Bác Hồ thuộc địa phận xóm Sen 01, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Chu Văn Đ đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), trong đó có 180 viên nén hình tròn màu đỏ, 02 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 18,025gam với mục đích để sử dụng. Do đó,Viện kiểm sát huyện Nam Đàn truy tố bị cáo Chu Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) là có cơ sở.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Chu Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung. Xét bị cáo là đối tượng nghiện lâu năm, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ của Chu Văn Đ 180 viên nén hình tròn màu đỏ, 02 viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) và 01 chiếc điện thoại HUAWEI màu trắng bạc. Sau khi lấy mẫu vật đi giám định còn 170 viên nén màu đỏ, 01 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 16,94gam; đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Còn chiếc điện thoại thu giữ của Chu Văn Đ không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt Chu Văn Đ từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù và tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc xử lý toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Chu Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): xử phạt Chu Văn Đ 06 năm 06 tháng tù (Sáu năm sáu tháng). Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 05/6/2018.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên bố tịch thu tiêu hủy: Một (01) phong bì của Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An trên các mép dán của phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, có đóng dấu của Công an huyện Hưng Nguyên, bên trong chứa 170 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 16,845gam; 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng là 0,095gam. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động HUAWEI màu trắng bạc, mặt trước đã bị vỡ, bên trong có gắn thẻ sim 01688092990 và 0899630772. (Đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Đàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Văn Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/7/2018).

5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ