- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung C phạm tôi Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH TỈNH KI ÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HSST Ngày 15/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH, TỈNH KI ÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử s
ơ th ẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ T ọa phi ên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đặng Hữu Tâm
2/ Ông Lâm Văn Triệu
- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang
– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát vi ên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2017, tại Trụ sở T òa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang, xét xử công khai s ơ th ẩm vụ án h ình sự thụ lý số
: 16/2018/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2018 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” theo Quyết định đưa v ụ án ra xét xử số
: 28/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung C ; sinh ngày 29/8/1998; HKTT: Số 463 NCT, KP 6, phư ờng RS, thành phố RG, tỉnh KG; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Na m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Trung Kh; sinh năm 1976 (đã chết) v à bà Huỳnh Th anh L; sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự : Không.
Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ng ày 24/12/2017 cho đến nay (có mặt ).
Ngư ời làm chứng: Chị Phan Thanh T1; sinh năm 1989 (vắng mặt)
Trú tại: Số 463 NCT, khu phố 6, ph ư ờng RS, thành phố RG, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Nguyễn Trung C l à đối t ư ợng nghiện ma túy, để có nguồn ma túy sử dụng,
sau khi nhận đ ư ợc điện thoại của các đối t
ư ợng nghiện hỏi mua ma túy, C
dùng điện thoại li ên hệ với đối t ư ợng H khoảng 2 8 tuổi (không r õ nhân thân, địa chỉ) tại khu vực th ành phố RG, tỉnh KG nhận ma túy về giao lại cho các con nghiện, C lấy tiền bán ma túy giao lại cho H v à đư ợc H cho ma túy sử dụng. Cụ thể trong quá trình từ đầu tháng 12 năm 2017 đến ng ày 24 tháng 12 năm 2017 C đã nhận ma túy của H tổng cộng 09 (chín) lần, mỗi lần từ 100.000
đồng đến 500.000 đồng . Tổng số tiền m à C mua ma túy của H l à 2.000.000 đồng , cụ thể C khai nhận đ ã bán trái phép chất ma túy cho các con nghiện nh ư sau:
- Bán ma túy cho đối t ư ợng Đo àn V T:
+ Lần thứ I: V ào khoảng tháng 12 /2017 cách ngày bị bắt quả tang khoảng
hơn 15 ngày (không nh ớ r õ ngày nào) T điện thoại cho C hỏi mua ma túy với giá 100.000 đồng , C đồng ý bán, T kêu C giao ma túy tại nh à của T ở khu phố 6, phư ờng RS, thành phố RG, tỉnh KG,C mang ma túy đến bán cho T, T trả tiền cho C 100.000 đồng.
+ Lần thứ II: V ào khoảng tháng 12 /2017 cách lần thứ I khoảng 04 ng ày, T tiếp tục điện thoại cho C hỏi mua ma túy với giá 100.000
đồng , C đồng ý bán, T kêu C giao ma túy tại nh à của T, C ma ng ma túy đến bán cho T, T trả tiền cho C 100.000 đồng.
+ Lần thứ III: V ào khoảng tháng 12 /2017 cách lần thứ II khoảng 04 ng
ày T tiếp tục điện thoại cho C hỏi mua ma túy với giá 100.000
đồng , C đồng ý bán, T kêu C giao ma túy tại nh à của T, C đem ma túy đế n bán cho T, T trả tiền cho C 100.000 đồng .
+ Lần thứ IV: V ào khoảng tháng 12 năm 2017 cách lần thứ III khoả
ng 04 ngày T tiếp tục điện thoại cho C hỏi mua ma túy với giá 200.000
đồng (hai trăm ngàn đồng), C đồng ý bán, T k êu C giao ma túy tại khu vực cầu
Quay thuộc phư ờng AH, thành phố RG, C mang ma túy đến bán cho T, T trả tiền cho C 200.000 đồng.
- Bán ma túy cho đối t ư ợng Phan Thanh T 1:
+ Lần thứ I: V ào rạng sáng ng ày 24 tháng 12 năm 2017 do có nhu cầu sử
dụng ma túy, T 1 điện thoại cho C hỏi mua ma túy
đá với giá 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) v à kêu C giao ma túy tại nh à của T 1, C đồng ý bán v à mang ma túy đến bán cho T 1, T1 trả tiền cho C 300.000 đồng .
+ Lần thứ II: V ào lúc 16 giờ, ngày 24/12/2017 T1 và T rủ nhau h ùn tiền đư ợc 300.000 đồng . Trong đó, T hùn 100.000 đồng , T1 hùn 200.000 đồng số tiền này do T1 giữ. Cả hai sử dụng điện thoại di động li
ên hệ với C hỏi mua ma túy đá với giá 300.000 đồng hai bên thống nhất địa điểm giao ma túy tại quán c
à phê Ng Tr thuộc ấp VT B, xã VHH, huyện CT, tỉnh KG. Đến 17 giờ c ùng ngày C điều khiển xe môtô nh ãn hiệu Sirius mang biển số 68X1
-378.78 (do bà Từ Bé Th đứng tên chủ sở hữu) đến quán c
à phê Ng Tr. Tại đây, C trực tiếp giao cho T 02 bịch ma túy đá (Methamphetamine) còn T1 thì trả tiền cho C 300.000 đồng khi vừa t rao đổi mua bán ma túy xong th ì bị bắt quả tang.
Như v ậy tổng số tiền
mà C bán ma túy cho T và T1 là 1.100.000 đồng .
Ngoài ra trong quá trình điều tra C khai nhận c òn bán ma túy cho:
1. Út bà Ch: C bán ma túy cho Út bà Ch 01 lần 01 bịch ma túy giá 300.000 đồng.
2. Tư V ăn Ng: C bán ma túy cho Ng 02 lần, lần thứ nhất 01 bịch ma túy giá
500.000 đồng, lần thứ hai 01 bịch ma túy giá 100.000 đồng .
Tại k ết luận giám định số: 797/KL
-KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Phòng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Ki ên Giang, kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt chứa b ên trong 02 (hai) bịch nylon đ ư ợc ni êm phong gửi đến giám định l à chất ma túy, loại methamphetamine. Trọng l ư ợng mẫu gửi giám định l
à 0,1177 gam. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Ng
hị định số 82, ng ày 19/7/2013 của Chính phủ).
- Đồ vật, t ài liệu thu giữ, tạm giữ gồm:
02 (hai) bịch nilon m àu trắng đ ư ợc h àn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất đây l
à chất ma túy, loại methamphetamine, có trọng l ư ợng mẫu gửi giám định l à 0,1177 gam; 01 (một) điện thoại di động nh
ãn hiệu Masstel m àu đỏ đen, Model: A130, số IMELI 1: 301014166632999, số IMEL 2: 30111466633005; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, m àu đỏ - đen, mang biển số 68X1 -37878, số khung: 3220HY021716, số máy: E3X9E79122 đ ã qua sử dụng và tiền Việt Nam là 300.000 đồng .
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
Chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ - đen, mang biển số 68X1 -37878, số khung: 3220HY021716, số máy: E3X9E79122 đã qua sử dụng, đây l à phươn g tiện m à bị c áo C dùng để thực hiện h ành vi phạm tội, quá tr ình điều tra xác định chiếc xe n ày là tài sản hợp pháp của b à Từ Bé Th đứng t ên chủ sở hữu, việc bị c
áo dùng chiếc xe tr ên để thực hiện hành vi phạm tội th ì chủ sở hữu ho
àn toàn không biết, C ơ q uan điều tra đ ã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng h
ình thức trả lại t ài sản cho chủ sở hữu
.
Trong vụ án n ày các đối t ư ợng t ên H (không rõ họ t ên địa chỉ) l à ngư ời cung cấp ma túy cho C v à hai đối t ư ợng Út b à Ch và Tư Văn Ng là hai ngư ời mua ma túy của C, hiện ch ưa th ể l àm việc đ ư ợc. Đề nghị C ơ quan đi ều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số : 23/CTr- VKSCT ngày 27/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung C về tội : “Mua bán trái phép chất ma túy ” theo điểm b khoản 2 Điều 194 B ộ luật hình sự năm 1999 .
Tại phi ên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị
cáo Nguyễn Trung C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” v à đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 năm 1999; điểm r, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 ; Điều 54 và Điều 3 8 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017 , xử phạt b ị cáo Nguyễn Trung C từ 03 đến 04 năm tù.
Về biện pháp tư pháp đề nghị HĐXX Toà án nhân dân huyện Châu Th ành áp dụng Điều 4 7 Bộ luật h ình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng h
ình sự năm 2015, xử:
- Tịch thu ti êu hủy 01 phong b ì màu trắng có d òng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT H ÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 797/2017, ngày 26 tháng 12 năm 2017, ngư ời chứng kiến
Nguyễn Tr M, giám định vi ên Nguyễn H N, có đóng dấu mộc đỏ ni êm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Ki ên Giang.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nư ớc 01 điện thoại di động nh ãn hiệu Masstel màu đỏ đen và số tiền 300.000 đồ
ng.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính l
à 1.700.000 đồng để sung v ào ngân sách Nhà nư ớc.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân huyện Châu Th ành.
Bị cáo đ ư ợc nói lời nói sau c ùng , bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phi
ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh
ư sau:
- Về h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự . Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h
ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó, các h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan tiền h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình phù hợp với các chứng cứ, t
ài liệu cũng nh ư k ết quả điều tra của C
ơ quan đi ều tra và bản cáo trạng truy tố của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, thể hiện: Nguyễn Trung C là đối t ư ợng nghiện hút ma túy v à để có ma túy sử dụng
lâu dài C đã liên hệ với đối t ư ợng tên H (không rỏ nhân thân lai lịch) ở khu vực th
ành phố RG, tỉnh KG hỏi mua 09 lần ma túy với
tổng số tiền l à 2.000.000 đồng đem về sử dụng v à nhiều lần bán lại cho các đối t ư ợng nh ư Đoàn Vi T và Phan Thanh T 1 thu lợi cho bản thân đư ợc 1.100.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ, ng ày 24/12/2017 khi C đang trao đổi mua bán ma túy cho T và T1 tại quán c à phê Ng Tr thuộc ấp VT B, xã VHH, huyện CT, tỉnh KG thì bị Công an phát hiện v à bắt quả tang , thu giữ 0 2 bịch ma tuý loại Methaphetamine, trọng l ư ợng l à 0,1177 gam và số tiền 300.000 đồng , ngoài ra trong quá trình điều tra C c òn khai nhận đ ã bán ma túy cho các đối tư ờng như Út bà Ch và Ng không rỏ nhân thân lai lịch đ ư ợc 03 lần th u lợi đ ư ợc 900.000 đồng . Đối chiếu th eo quy định tại Điều 194 Bộ luật h
ình sự th ì “1. Ngư ời nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, th
ì bị phạt t ù từ hai năm đến bảy năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các
trư ờng hợp sau đây, thì bị phạt t ù từ bảy năm đến m ư ời lăm năm: …….; b) Phạm tội nhiều lần;… Như v ậy , hành vi nhiều lần bán ma túy (loại Methamphetamine) cho T, T1, Út bà Ch và Ngh của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu th
ành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” với tình tiết tăng nặng định khung l à phạm tội nhiều lần đ
ư ợc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 nh ư đ ã viện dẫn n êu trên .
Xét về tính chất mức độ h
ành vi phạm tội của bị cáo l
à rất nguy hiểm cho x ã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chín
h sách độc quyền về ma túy của Nhà nư ớc m à còn làm băng hoại giống nồi thanh thiếu ni
ên trong tầng lớp x ã hội hiện nay v à đây cũng l à nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn khác trong x
ã hội, gây bất ổn cho ng ư ời dân sinh sống tại địa ph
ương nơi x
ảy r a vụ án. Bản thân bị cáo đã nhận thức đ ư ợc việc m ua bán trái phép ma túy là hành vi mà pháp luật đặc biệt nghi êm cấm v à sẽ xử lý nghi êm cho những ai cố ý vi phạm. Thế nh
ưng chỉ v ì nghiện ngập v à động c ơ v ụ lợi bị cáo
đã bất chấp pháp luật
cố ý liên hệ với một đối t ư ợng t ên H (không rỏ nhân thân lai lịch ) hỏi mua ma túy đem về sử dụng và bán lại ki ế m lời. Trong vụ án n ày cho thấy, chỉ trong khoảng thời gian ngắn
từ đầu tháng 12/2017 cho đến ng ày bị bắt quả tang ng ày 24/12/2017 bị cáo đ ã liên tiếp 09 lần bán ma túy cho T, T1, Út bà Ch và Ng thu lợi bất chính cho bản thân với số tiền 2.000.000 đồng. Nếu bị cáo biết tôn trọng pháp luật
, sống có trách nhiệm với bản thân v à không tham lam vụ lợi
thì hôm nay không phải chịu sự nghiêm trị của pháp luật. Với h
ành vi phạm tội n êu trên, HĐXX nhận định cần phải xử phạt bị cáo mức án
nghiêm và cần tách ly bị cáo ra khỏi đời sống x
ã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đồng thời qua đó phần n
ào giảm bớt loại tội phạm n ày trong xã hội.
- Xét về t ình tiết giảm nhẹ
: Tại phiên Tòa bị cáo có thái độ th ành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự;
sau khi phạm tội bị cáo đ ã tự thú về h ành vi phạm tội của bị cáo n
ên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm n hẹ cho bị cáo đ ư ợc quy định tại
điểm r, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, sẽ xem xét hình phạt khi l ư ợng h ình nhằm có mức án ph ù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo chở th
ành một công dân tốt sống có ích cho gia đ
ình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện
chính sách khoan hồng của Nh à nư ớc.
- Xét đề nghị của vị đại diện V
iện kiểm sát tại phi ên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l
à có căn cứ pháp luật n ên HĐXX ghi nhận để xem xét.
- Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
5.1 Đối với
01 phong bì màu trắng có d òng chữ CÔNG AN TỈNH KI ÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT H ÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số
797/2017, ngày 26 tháng 12 năm 2017, ngư ời chứng kiến
Nguyễn Tr M , giám định vi ên Nguyễn H N, có đóng dấu mộc đỏ ni
êm phong của Ph òng kỹ t huật h ình sự Công an tỉnh Ki ên Giang, đây là vật chứng đã thu giữ trong vụ án , căn cứ v ào khoản 1 Điều 4 7 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần xử tịch thu
tiêu hủy là phù hợp.
5.2 Đối với số tiền 300.000 đồng đã thu giữ trong ng ày bị bắt quả tang
đây là tiền thu lợi bất chính m à bị cáo có đ ư ợc t ừ việc mua bán trái phép chất ma túy, căn cứ khoản 1 Điều 4 7 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần xử tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nư ớc l à phù hợp.
5.3 Đối với số tiền
1.700.000 đồng đây l à tiền t hu lợi bất chính m à bị cáo có đư ợc từ việc mua bán trái phép chất ma túy, căn cứ
khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần buộc bị cáo
phải nộp lại để sung
vào Ngân sách nư ớc l à phù hợp.
5.4 Đối với 01 chiếc điện thoại di động nh ãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã thu giữ trong ng ày bị bắt quả tang, qua điều tra đ
ã chứng minh đ ư ợc chiếc điện thoại n ày bị cáo dùng vào việc mua bán ma túy n ên căn cứ v ào khoản 1 Điều 4 7 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nư ớc là phù hợp.
5.5 Đối với chiếc xe mô tô nh
ãn hiệu YAMAHA SIRIUS m àu đỏ đen, mang biển số kiểm soát 68X1 -37878 mà Công an đã thu giữ của bị cáo. Trong quá tr ình điều tra đ ã chứng minh đư ợc chiếc xe n ày là của b à Từ Bé Th cho bị cáo m ư ợn để đi công chuyện việc bị cáo sử dụng chiếc xe tr
ên để l àm phương ti ện phạm tội th ì bà Th hoàn toàn không biết. Do b à Th không có lỗi trong vụ án n ày nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Châu Th ành đã tiến hành xử lý trả xe lại cho b à Th. Xét việc trao trả xe l à đúng quy định pháp luật n ên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí
Hình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾ T ĐỊNH :
Tuyên bố b ị cáo Nguyễn Trung C phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2009; điểm r, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 3 8 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017
, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung C 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt tù đư ợc tính kể từ ng
ày 24/12/2017.
Về biện pháp tư pháp áp d ụng Điều 4 7 BLHS năm 2015 đư ợc sửa đổi bổ
sung năm 2017 và Điều 106 BLTTHS năm 2015, xử:
- Tịch thu ti êu hủy 01 phong b ì màu trắng có d òng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT H ÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 797/2017, ngày 26 tháng 12 năm 2017, ngư ời chứng kiến
Nguyễn Tr M , giám định viên Nguyễn H N , có đóng dấu mộc đỏ ni êm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Ki ên Giang.
- Tịch thu vào ngân sách Nhà nư ớc 01 điện thoại di động n
hãn hiệu Masstel màu đỏ đen v à số tiền 300.000 đồng
.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Trung C nộp lại số tiền thu lợi bất chính l
à 1.700.000 đồng để sung v ào ngân sách Nhà nư ớc.
Các vật chứng tr ên hiện Chi cục Thi h ành án dân sự huyện Châu Th ành đang quản lý theo quyế t định chuyển giao vật chứng số:
15/QĐCGVC ngày 27/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch âu Thành, tỉnh Ki ên Giang.
Về áp phí áp dụng khoản 2
Điều 99 BLTTHS và Điều 2 3 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử buộc bị cáo
Nguyễn Trung C phải nộ p 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ th ẩm .
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày, kể từ
ngày tuyên án sơ th ẩm. Nơi nh ận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
- TAND tỉnh Ki ên Giang;
| - Sở t ư pháp t ỉnh Ki ên Giang; - VKSND huyện Châu Th ành; - Công An huyện Châu Th ành; - Chi cục THADS huyện Châu Th ành; - Bị cáo; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ Tọa phi ên Tòa Nguyễn Thanh Ph ong |