- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HS- ST Ngày: 13-04-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đăng Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Ngọc Thành
2. Bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 13-04-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2018/HSST ngày 30-03-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23 /2018/HSST-QĐ ngày 02-04-2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993 tại khu 4, thị trấn T H, huyện T H, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: Khu 4, thị trấn T H, huyện T H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Đức L, sinhnăm 1977
Trútại: ThônCam Lộ, xãTân Việt, huyện T H,tỉnhHải Dương. (vắng mặt).
2.Chị Nguyễn Thu Th,sinhnăm 1999
Trútại: Khu4,thịtrấn T H, huyện T H,tỉnh HảiDương.(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy (chất Hêroin), sáng ngày 10/01/2018, Nguyễn Văn Tr điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển số 34B3 – 519.40 (xe mượn của chị Nguyễn Thu Th là em gái Tr), đi từ nhà ở khu 4, thị trấn T H, huyện T H đến khu vực đường thôn T, xã V, huyện T H mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây Tr mua được 01 gói ma túy đựng trong đoạn ống nhựa màu trắng, sọc kẻ đỏ được hàn kín hai đầu với giá 100.000đ của một người đàn ông không quen biết. Trường cho gói ma túy vừa mua được vào trong miệng ngậm lại, rồi điều khiển xe tìm mua bơm tiêm để sử dụng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đường thôn L, xã V, huyện T H thì bị tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện T H kiểm tra hành chính, thu giữ trong miệng Tr đang ngậm 01 đoạn ống nhựa màu trắng, sọc kẻ đỏ được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển số 34 B3 – 519.40.
Tại bản kết luận giám định số 137/KLGĐ – PC 54 ngày 13/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng, ghi thu của Nguyễn Văn Tr gửi đến giám định có trọng lượng là 0,212 gam, là loại Hêroin. Hêrôin nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính Phủ. Hoàn lại 0,138g Hêrôin sau giám định.
Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 26/03/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố Nguyễn Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 15 đến 18 tháng tù. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,138g Hêrôin sau giám định; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Tr tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng L, Th, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ ngày 10-01-2018, tại khu vực đường thôn L, xã V, huyện T H; Nguyễn Văn Tr đang cất giấu trái phép 0,212g Hêrôin mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Hêrôin là chất ma túy bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý cất giấu trái phép mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 0,138 gam Hêrôin là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng đen bạc, biển số 34 B3 – 519.40, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thu Th (là em gái bị cáo). Chị Th không biết bị cáo lấy xe đi mua ma túy về sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Th là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/01/2018.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 0,138g Hêrôin hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện T H;. - Công an huyện T H; - Chi cục THADS huyện T H; - Trại tạm giam Kim Chi; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Đăng Huy |