vanban.org

Bản án 25/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ D.

Chị Nguyễn Thị Huệ D được ly hôn với anh Huỳnh Hữu T. [2] Về nuôi con chung: Chị D trình bày không có nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huệ D - Huỳnh Hữu T"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 25/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 09 - 4 - 2018.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Vũ.

Ông Nguyễn Văn Việt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 358/2017/TLST - HNGĐ, ngày 01/12/2017 về tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 23/02/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huệ D, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Anh Huỳnh Hữu T, sinh năm 1991 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 29/11/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huệ D trình bày: Chị và anh Huỳnh Hữu T kết hôn do quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung đến tháng 9/2016 thì ly thân do bất đồng quan điểm, anh T sống gia trưởng, vợ chồng không hợp nhau. Thời gian ly thân có gặp gỡ hàn gắn nhưng không thành. Nay chị xin ly hôn với anh T. Con chung, tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn anh Huỳnh Hữu T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Huệ D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Thị Huệ D có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, anh Huỳnh Hữu T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh T.

Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huệ D và anh Huỳnh Hữu T, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/11/2015. Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị D trình bày thì vợ chồng sống chung đến tháng 9/2016 thì ly thân do bất đồng quan điểm, anh T sống gia trưởng, vợ chồng không hợp nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của chị D và anh T chỉ tồn tại trong thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân, thời gian sống ly thân anh chị có hàn gắn nhưng không đạt kết quả nên chị D làm đơn xin ly hôn với anh T, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh T đến Tòa án để tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân với chị D, mục đích để anh chị hàn gắn nhưng anh T không đến Tòa án để tham gia hòa giải, điều đó chứng tỏ anh T có ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm với chị D. Do đó có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm vợ chồng chị D, anh T là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị D trình bày không có, đối với anh T trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì về các vấn đề nêu trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định anh chị có con chung, tài sản chung và nợ chung không nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu giải quyết ở vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ nộp án phí: Chị Nguyễn Thị Huệ D phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huệ D.

Chị Nguyễn Thị Huệ D được ly hôn với anh Huỳnh Hữu T.

[2] Về nuôi con chung: Chị D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ nộp án phí:

Án phí ly hôn chị Nguyễn Thị Huệ D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx, ngày 01/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ