vanban.org

Bản án 25/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/01/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Hồ Việt Tú phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ là 107.937.500 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2018/DS-ST
Ngày: 15/01/2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Tốt

2/ Ông Nguyễn Văn Tiên.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà, cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Châu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 558/2017/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 463/2017/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 358/2017/QĐST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (VP Bank).

Địa chỉ liên hệ: tầng A, tòa nhà VPBank, số A, Tôn Đức T, phường Bến Ngh, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quốc Đ- Phòng xử lý nợ (Giấy ủy quyền số 3766/2017/UQ-VPB ngày 14/8/2017)- (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Việt T , 1987;

Thường trú: Xí nghiệp gạch 19/5, xã Hưng Đ, huyện Hưng Ng, tỉnh Nghệ An.

Tạm trú: B, khu phố 4, phường Hiệp T , Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh - (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP V (VPBank) - Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh đã cấp tín dụng cho ông Hồ Việt Tú. Theo đó, Hợp đồng tín dụng mà ông Hồ Việt Tú đã ký Hợp đồng với Ngân hàng TMCP V (VPBank) - Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh là: Hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 2612938 giải ngân ngày 19/01/2015 (Căn cứ vào giấy đề nghị vay vốn ngày 10/12/2014) số tiền vay 50.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng đã ký. Phía VPBank đã nhiều lần gửi thông báo, liên hệ, làm việc trực tiếp và tạo điều kiện cho ông T thanh toán, nhưng ông T cố tình tránh né, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng TMCP V quyết định khởi kiện ông T ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để thu hồi khoản vay vì ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho VPBank. Quá trình sử dụng thẻ, ông T chưa thực hiện thanh toán lần nào.

Tổng dư nợ của ông T tại Ngân hàng TMCP V tạm tính đến ngày 14/08/2017 cụ thể như sau: Nợ gốc: 50.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.791.667 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.895.833 đồng; Tổng: 107.937.500 đồng; (Một trăm lẻ bảy triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Nay, VPBank kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Hồ Việt Tú phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc và lãi vay tạm tính đến hết ngày 14/08/2017 là: 107.937.500 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra ông T còn phải thanh toán cho VPBank tiền lãi phát sinh theo quy định tại các hợp đồng đã ký kể từ ngày 15/08/2017 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Hồ Việt Tú nhưng ông T vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án, Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản giữa hai bên. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Hồ Việt Tú vắng mặt không lý do, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hồ Việt Tú và ông Đặng Quốc Đạt theo quy định tại Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

3/ Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được, có đủ cơ sở để xác định:

Theo Hợp đồng tín dụng trả góp số: 2612938 giải ngân ngày 19/01/2015 – Thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng giữa Ngân hàng TMCP V với ông Hồ Việt Tú. Tại bảng thanh toán, quyết toán của nguyên đơn, ông T có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 50.000.000 đồng, ông T còn nợ gốc: 50.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 37.791.667 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.895.833 đồng. Nguyên đơn nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng ông T không thực hiện. Nay Ngân hàng TMCP V yêu cầu ông T thanh toán nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tổng cộng 107.937.500 đồng.

Trong suốt thời gian giải quyết vụ án, Tòa án có triệu tập ông Hồ Việt Tú nhưng ông T vẫn không lên Tòa để trình bày ý kiến, việc này có thể coi như là ông T đã tự từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo quy định tại Điều 91; Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những lời khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chứng cứ.

Theo xác nhận của Công an phường Hiệp T “đương sự ông Hồ Việt Tú, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: Xí nghiệp gạch 19/5, xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, hiện nay không còn tạm trú tại địa chỉ 531/8, tổ 45B, khu phố 4, phường Hiệp T , Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 năm 2017 đến nay”.

Căn cứ vào quy định điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung”.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay tài sản giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Do bị đơn vi phạm hợp đồng không trả tiền theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện bị đơn là đúng với quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ số tiền nợ gốc đã vay là 50.000.000 đồng.

Về lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thì lãi suất cho vay là 27%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn vay là 24 tháng. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận của hai bên và không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi: 37.791.667 đồng; Nợ lãi quá hạn: 18.895.833 đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn cả tiền lãi và gốc tổng cộng là: 107.937.500 đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự là 5.396.875 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 2.698.438 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 48, 49, 147, 217; 227, 228, 235, 264, 266, 267; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 122; 124; 476 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào các Điều 119, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Buộc ông Hồ Việt Tú phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ là 107.937.500 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa giao trả hết số tiền nêu trên, thì bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Buộc ông Hồ Việt T phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự là 5.396.875 đồng (năm triệu ba trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm đồng).

Trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo đơn khởi kiện là 2.698.438 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0034461 ngày 10/10/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ