vanban.org

Bản án 25/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bô Luật dân sự về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N về việc yêu cầu bà Lâm Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. 2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N không phải nộp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Day-Loan"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bô Luật dân sự về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2017/ DS-ST
Ngày 05 tháng 9 năm 2017
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Đức Hòa

2- Bà

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2017/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “ Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2017/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Đồng nguyên đơn:

Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1967, (tên thường gọi: T)

Bà Huỳnh Bích N, sinh năm 1969

Cùng địa chỉ: Số nhà 43/214, đường B, khóm 4, phường 2, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn: Ông Dương Long H – Luật sư của Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Minh Quốc thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Bà Lâm Thị Mỹ L, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà 149, khóm 4, phường 5, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Đường lộ B, khóm 5, phường 2, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản lấy lời khai của đương sự đồng nguyên đơn ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N thống nhất trình bày: Vào khoảng 20 giờ ngày 17/12/2016, ông cùng ông T (tên thật là Nguyễn Anh T) và ông bé T1 (tên thật là Ngô Thanh A) là bạn hàng xóm đang ngồi nhậu với nhau ở nhà của ông T tại khóm 4, phường 2, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì thấy bà Lâm Thị Mỹ L đi đám ma về ghé ngang nhà mẹ của bà L gần đó nên ông T mời bà L vào uống ly bia cùng mọi người. Trong khi ngồi uống bia bà L nói với ông: “Anh là anh T đại gia, đại gia cái gì mà đại gia, anh đại gia mà anh ngu, anh đi ăn cứt đi”, tôi trả lời: “Sao nói kỳ vậy, sao nhục mạ tôi”, bà L nói tiếp “Thằng G (H) thằng đó ăn cứt mà còn khôn hơn anh, nó lấy vợ anh lâu nay mà anh không biết sao?” (ông G là người làm công trước đây của gia đình ông), khi ông hỏi “L nói có thật không”, thì bà L trả lời là “nói thật”. Sau khi nghe bà L nói, ông chạy về nhà lôi vợ là bà Huỳnh Bích N đến nhà ông T giáp mặt bà L để làm rõ việc bà L vừa nói. Trong lúc nóng giận ông có đánh bà N một tát, do bất ngờ bị xúc phạm nên bà N vật vã khóc lóc và bất tỉnh lúc này có ông T và ông bé T1 là người chứng kiến. Ngay sau ngày xảy ra sự việc vợ chồng ông có trình báo với Công an phường 2, thành phố B và các bên được Công an phường 2 hòa giải vào ngày 08/01/2017 và ngày 10/3/2017. Tại các buổi hòa giải bà L thừa nhận có nói những lời xúc phạm trên và xin lỗi vợ chồng ông. Là gia đình có nề nếp, có uy tín tại địa phương, được mọi người tôn trọng nhưng sau khi sự việc xảy ra tinh thần của vợ chồng ông bà bị ảnh hưởng nghiêm trọng, danh dự nhân phẩm bị giảm sút mất uy tín đối với xã hội và bà con hàng xóm xung quanh. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc bà L bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho vợ chồng ông số tiền 10 tháng lương cơ bản là 24.200.000 đồng (10 tháng lương x 1.210.000 đồng x 2 người).

- Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải vào ngày 12/5/2017 và tại phiên tòa bị đơn bà Lâm Thị Mỹ L trình bày: Bà không nhớ cụ thể ngày tháng xảy ra sự việc, nhưng gần đến tết năm 2017 bà có uống bia với ông Đ, ông T và ông Bé T1 tại nhà của ông T. Trong lúc nhậu các bên có nói đùa với nhau. Ông Đ là người nói trước với bà “Mày với con nhỏ L bạn mày cắt máu ăn thề nó bị sida chết rồi”, theo bà ý ông Đ là chọc bà cũng bị bệnh giống như vậy. Do trước đây ông Đ thường nói người này, người kia “ăn cứt” nên trả lời lại “ông cứ lo ông đi tối ngày ông cứ lo người này, người kia hoài, ông ăn cứt mà ông không hay”, nghe xong ông Đ hỏi bà “mày nói sao?” thì bà có nói “không biết, muốn biết thì ông hỏi vợ ông đi”. Một lúc sau đó ông Đ bỏ đi được một lúc thì quay lại cùng vợ là bà N. Khi bà N hỏi bà “L nói sao” thì bà trả lời “tôi nói không biết”; bà N nói: “L nói tôi lấy thằng ba G” thì bà có nói là “tôi không biết và cũng không nói”. Trong lúc các bên tranh luận thì ông Đ nhào vô đánh vô mặt bà 02 cái làm cho bà bị té ngã, nên các bên có xảy ra cự cãi. Được mọi người can ngăn bà đã ra về nhưng ông Đ, bà N vẫn qua nhà mẹ bà để chửi bới xúc phạm bà và mẹ bà.

Sau khi sự việc xảy ra ông Đ và bà N có yêu cầu Công an phường 2, thành phố B giải quyết. Các bên được mời làm việc tổng cộng 4 lần (bà không nhớ cụ thể ngày tháng). Lần đầu ông Đ yêu cầu bà xin lỗi, do ông Đ cứ chửi mắng, hâm dọa đánh bà nên được sự động viên của chính quyền địa phương bà đồng ý xin lỗi cho xong chuyện nhưng ông Đ không đồng ý vì cho rằng bà không thiện chí; lần thứ 2 và lần thứ 3 như lần trước vì không muốn căng thằng giữa các bên bà lại tiếp tục xin lỗi vợ chồng ông Đ nhưng ông Đ không đồng ý và cho rằng việc xin lỗi phải có đoàn thể chính quyền địa phương chứng kiến thì ông mới đồng ý. Nên đến lần thứ 4, được Công an phường 2 tạo điều kiện cho buổi hòa giải dưới sự chứng kiến của nhiều người cụ thể: Ông N phó công an phường 2, anh H công an khu vực, với mấy người phụ nữ không biết ai, ông D là trưởng khóm 4 phường 2, thành phố B bà đã công khai xin lỗi vợ chồng ông Đ và vợ chồng ông Đ chấp nhận lời xin lỗi của bà, sự việc này được lập thành văn bản. Nay, bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Đ và bà N.

* Tại phiên tòa:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn Luật sư Dương Long H trình bày: Vào khoảng 20 giờ ngày 17/12/2016 trong cuộc nhậu tại nhà ông T, dưới sự chứng kiến của ông T và ông Bé T1 bà L dùng lời nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà N vì cho rằng bà N có hành vi bất chính với người làm công cũ của vợ chồng ông Đ, bà N. Sự việc này đã được bà L thừa nhận và công khai nhiều lần xin lỗi tại Công an phường 2, thành phố B. Hành vi của bà L dẫn đến làm cho tinh thần của ông Đ và bà L bị ảnh hưởng nghiêm trọng, danh dự nhân phẩm bị giảm sút làm mất uy tín đối với xã hội và bà con hàng xóm xung quanh và ảnh hưởng hạnh phúc gia đình ông Đ bà L. Do vậy theo quy định tại Điều 604, 611 Bộ luật dân sự năm 2005 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà L phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt về tổn thất tinh thần cho ông Đ và bà N số tiền 10 tháng lương cơ bản mỗi người là 12.100.000 đồng (10 tháng lương x 1.210.000 đồng), tổng cộng 02 người là: 24.200.000 đồng.

- Đồng nguyên đơn ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N: Thống nhất với lời trình bày của Luật sư về thời gian xảy ra sự việc là ngày 17/12/2016. Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án ông bà xác định vào ngày 18/12/2016 là do nhầm lẫn. Ông bà thống nhất với người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, không bổ sung ý kiến gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Vụ án này thuộc trường hợp “Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”; bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại phường 2, thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu giả quyết là đúng theo quy định. Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định người tham gia tố tụng đúng theo quy định pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai, của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung vụ án: Vào ngày 17/12/2016, trong lúc uống bia bà L có lời lẽ cho rằng bà N có quan hệ bất chính với người khác, viêc này được bà L thừa nhận tại các biên bản làm việc và hòa giả tại Công an phường 2, thành phố B. Do vậy, sự viêc bà L dùng lời nói xúc phạm đến bà N là có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên thời điểm bà L nói ngoài ông Đ chỉ có ông T và ông Bé T1 những người này cũng xác định không nghe rõ. Sự việc này cũng đã được Công an phường 2 giải quyết, dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương bà L cũng đã xin lỗi công khai vợ chồng bà N, ông Đ bà N cũng đồng ý với lời xin lỗi và không yêu cầu gì khác. Nay lại đặt ra yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền 10 tháng lương cơ bản là không có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại khoản 6 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm của ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N đối với bà Lâm Thị Mỹ L. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Đ, bà N và bà L đều thống nhất có việc ông Đ, bà L, ông T và ông Bé T1 có uống bia ở nhà ông T tại phường 2, thành phố B vào ngày 17/12/2017. Tuy nhiên, ông Đ bà N xác định trong lúc uống bia bà L có nói bà N có hành vi bất chính với người làm công tên “G”, nhưng bà L không thừa nhận có lời nói xúc phạm đến Bà N.

Mặc dù bà L không thừa nhận có hành vi dùng lời nói xúc phạm đến bà N nhưng tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải ngày 12/5/2017 bà L xác định khi ông Đ hỏi bà “mày nói sao?” thì bà có nói “không biết, muốn biết thì ông hỏi vợ ông đi” nhưng bà L không lý giải được vì sao bà lại đưa bà N vào nội dung tranh cãi; tại biên bản hòa giải vào ngày 08/01/2017 và ngày 28/02/2017; tờ cam kết ngày 28/02/2017 tại Trụ sở Công an phường 2, thành phố B chính bà L thừa nhận có nói việc bà N “lấy thằng Ba G”, sự việc này được anh Ngô Thanh A (Bé T1, B) là người có mặt xác nhận bà L có nói câu “Vợ ông lấy Ba G” và anh Nguyễn Anh T xác nhận có nghe ông Đ nói: “mầy nói gì Ba G lấy vợ tao” tại các biên bản lấy lời khai tại Công an phường 2, thành phố B.

Từ cơ sở nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 17/12/2016, trong khi ngồi uống bia tại nhà ông Nguyễn Anh T, bà Lâm Thị Mỹ L có hành vi dùng lời nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà Huỳnh Bích N bằng việc cho rằng Bà N có quan hệ bất chính với người làm công tên G.

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tính, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Do bà L có hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm uy tính của ông Đ và bà N nên ông Đ, bà N yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại cũng là phù hợp theo quy định pháp luật. Tuy nhiên xét điều kiện, hoàn cảnh phát sinh tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm xảy ra sự việc vào ngày 17/12/2016, trong lúc uống bia khi các bên nói chuyện đùa qua lại bà L có dùng lời nói xúc phạm đến bà N thì ngoài ông Đ ra chỉ có ông T và ông A chứng kiến. Lẽ ra, khi nghe bà L nói xấu về vợ mình thì ông Đ phải làm rõ có sự việc trên hay không để tìm hướng giải quyết ổn thỏa và cũng để bảo vệ uy tín, danh dự của gia đình nhưng ông Đ lại về nhà lôi kéo bà N đến nhà ông Tuấn để đối chất, tranh cãi to tiếng làm cho sự việc càng nhiều người biết và vấn đề càng trầm trọng hơn. Trong lúc tranh cãi ông Đ có tát bà L, sự việc này cũng được chính bà N và ông Đ thừa nhận. Tại đơn kiện và các lời khai tại Tòa án ông Đ và bà N xác định ông Đ có đánh bà N một tát, do bất ngờ bị xúc phạm bà N vật vã khóc lóc và bất tỉnh nhưng tại các biên bản làm việc tại Công an phường 2 và tại phiên tòa hôm nay cả bà N và ông Đ đều thừa nhận không có việc ông Đ đánh bà N trước mặt nhiều người.

Sau khi sự việc xảy ra bà L tại Trụ sở Công an phường 2, thành phố B bà L đã nhận thức được hành vi của mình là không đúng nên đã công khai xin lỗi ông Đ và bà N 02 lần. Lần cuối tại buổi hòa giải vào ngày 28/02/2017 trước mặt nhiều người với đủ thành phần chứng kiến theo yêu cầu của ông Đ bà N và cũng được chính ông Đ bà N chấp nhận và không yêu cầu gì khác.

Ông Đ và bà N cho rằng gia đình ông bà là gia đình có nề nếp, uy tín tại địa phương được nhiều người tôn trọng nhưng từ câu nói của bà L dẫn đến tinh thần của ông bà bị ảnh hưởng nghiêm trọng, danh dự nhân phẩm bị giảm sút mất uy tín với xã hội, gia đình không còn như xưa nên mặc dù bà L đã xin lỗi nhưng ông bà vẫn khó chịu khi nghĩ đến sự việc xảy ra; Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ bà N xác định quan hệ hôn nhân của ông bà đã nhiều năm và bền vững cho đến hiện nay, sau khi xảy ra sự việc ông bà cũng chưa nghe về việc bà L có nói xấu bà N với ai khác, và cũng không nghe ai nói gì đến sự việc đã qua. Chỉ là cảm giác của ông bà khi tiếp xúc với những người xung quanh không còn như xưa và ông Đ bà N cũng không chứng minh được có thiệt hại xảy ra trên thực tế do hành vi của bà L gây ra. Do vậy không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông Đ và bà N như đề nghị của Luật sư tại phiên tòa, chấp nhận như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về án phí: Do yêu cầu của ông Đ và bà N thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí Tòa án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên ông Đ và Bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 6 Điều 26, Điều 35, a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 584, 588 và 592 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bô Luật dân sự về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N về việc yêu cầu bà Lâm Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Đ và bà Huỳnh Bích N không phải nộp.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ