vanban.org

Bản án 25/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Huế Tuyên án 26/12/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị Lệ Q: Buộc vợ chồng bà Phan Thị Lệ Q, ông Phạm Văn A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, ông Lê Tấn Thọ số tiền nợ là 50.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành các khoản tiền nói trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp nợ giữa bà X với bà Q"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị Lệ Q: Buộc vợ chồng bà Phan Thị Lệ Q, ông Phạm Văn A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, ông Lê Tấn Thọ số tiền nợ là 50.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Bản án số: 25/2018/DS-PT
Ngày: 26/12/2018
V/v tranh chấp nợ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông La Minh Tường

Các Thẩm phán:

Ông Trần Hưng Bính

Ông Bùi Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Thọ, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Sinh, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Thừa Thiên Huế, mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 17/2018/TLPT-DS ngày 24/10/2018, về việc tranh chấp nợ.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 11/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 47/2018/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Đ, xã , thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Ngọc K, địa chỉ: đường V, thành phố H, theo giấy ủy quyền ngày 13/11/2018. Có mặt

- Bị đơn: Bà Phan Thị Lệ Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Tấn T, sinh năm 1968 (chồng bà X); địa chỉ: Thôn Đ, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã ủy quyền cho ông Đặng Ngọc K tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 13/11/2018).

+ Ông Phạm Văn A (chồng bà Q); địa chỉ: xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (ông A đã ủy quyền cho bà Phan Thị Lệ Q tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2018).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với bà Nguyễn Thị X nên vào ngày 20/5/2015 bà Phan Thị Lệ Q có đặt vấn đề để mượn của bà X số tiền 50.000.000 đồng và hẹn sau 05 ngày sẽ trả. Bà X đã nhiều lần yêu cầu bà Q trả số tiền trên nhưng đến nay vẫn không trả. Nay bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q phải trả số tiền bà Q đã mượn là 50.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.

Đới với bà Q thừa nhận có nợ của bà X số tiền 50.000.000 đồng nhưng do điều kiện khó khăn, làm ăn thua lỗ nên bà Q xin được trả dần đến khi hết nợ, nhưng bà X không chấp nhận.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2016/DS-ST ngày 11/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:

Áp dụng Điều 463, 464, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X: Buộc vợ chồng bà Phan Thị Lệ Q, ông Phạm Văn A phải liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, ông Lê Tấn T số tiền nợ là 50.000.000đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20/9/2018 bà Phan Thị Lệ Q kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nói trên với nội dung: Xin được trả dần số nợ của bà X. Ông A không kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cho rằng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không có thiếu sót gì phải kiến nghị khắc phục. Về nội dung đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, lời trình bày của các bên đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về Tố tụng:

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[2]. Về Nội dung:

Xét nội dung kháng cáo của bà Phan Thị Lệ Q xin được trả dần số nợ của bà X, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Q thống nhất còn nợ bà X số tiền là 50.000.000 đồng. Vì vậy bà X khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Q phải trả số tiền còn nợ nói trên và không yêu cầu tính lãi. Tòa án nhân dân thị xã Hương trà đã buộc vợ chồng bà Q, ông A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà X và ông T số tiền còn nợ 50.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.

Nay bà Q kháng cáo đề nghị xin được trả dần số tiền còn nợ nói trên. Về đề nghị của bà Q, tại phiên tòa hôm nay bà X không chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Q được mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Bà Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 463, 464, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị Lệ Q: Buộc vợ chồng bà Phan Thị Lệ Q, ông Phạm Văn A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, ông Lê Tấn Thọ số tiền nợ là 50.000.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành các khoản tiền nói trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc vợ chồng bà Phan Thị Lệ Q và ông Phạm Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.500.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000 đồng theo biên lai số 009833 ngày 24/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Lệ Q phải chịu 300.000 đồng.

Số tiền án phí dân sự phúc thẩm bà Q đã nộp tại biên lai thu tiền số 009852 ngày 08/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

3. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ