- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm QĐVĐKPTGT đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2017/ HSST Ngày 28 / 7 /2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN- TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thầm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Quang
Hội thẩm nhân dân
1. Ông Võ Sỹ Huyền - Phó chủ tịch hội ngƣời cao tuổi huyÖn Hƣơng S¬n, tØnh Hµ TÜnh.
2. Ông Đặng Xuân Đàn - Phó chủ tịch hội làm vƣờn huyện Hƣơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nam - Thƣ ký Tòa án
Đại diện VKSND huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hƣơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2017/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1993; Nơi ĐKNKTT chổ ở: Xóm 9, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ Văn hóa 9/12; nghề nghiệp: Lái máy xúc; con ông Nguyễn Văn B ( đã chết) và bà Hán Thị L. Vợ, con: Chƣa có. Tiền án, tiền sự: chƣa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cƣ trú” tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bị hại: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1962, Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.( Đã chết trong vụ tai nạn giao thông)
- Đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại:
1. Ông Phạm Ngọc H1, sinh năm 1937 ( Bố của bị hại); Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1934 ( Mẹ của bị hại); Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
3. Anh Phạm Ngọc P1, sinh năm 1997 ( Con của bị hại); Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Ngọc H2, sinh năm 1963. ( Anh trai của bị hại). Trú tại: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là ngƣời đƣợc ông Phạm Ngọc H1, bà Phạm Thị L, anh Phạm Ngọc P1 ủy quyền. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cao K, sinh năm 1985; trú tại: Thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa..
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Văn P bị Viện kiểm Sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Vào sáng ngày 10/4/2017, Nguyễn Văn P sinh năm 1993 trú tại xóm 9 xã H, huyện H1, Hà Tĩnh có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 38P1-6082 của anh Nguyễn Cao K sinh năm 1985 trú tại thôn M, xã S, huyện H2 đi trên Quốc lộ 8A theo hƣớng từ xã S – xã S1 để đi lái máy xúc. Trong quá trình điều khiển xe mô tô thì tay trái của P cầm 01 chiếc gậy tre dài 2,73m, đƣờng kính 4cm. Khoảng hơn 6 giờ sáng cùng ngày khi Nguyễn Văn P đi đến km 33 + 300m Quốc lộ 8A thuộc địa phận thôn T, xã S, lúc này P điều khiển xe chạy với tốc độ khoảng 65km/giờ thì phát hiện thấy phía trƣớc cách mình khoảng 20m có ông Phạm Ngọc H sinh năm 1962 trú tại thôn T, xã S1, huyên H2 đang đi bộ từ lề đƣờng bên phải theo chiều đi của P và đã đi ra giữa phần đƣờng dành cho xe cơ giới. Do P điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ nhanh, thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe mô tô một tay nên không xử lý đƣợc và đã để cho xe mô tô biển kiểm soát 38P1-6082 đâm vào ông H làm cho ông H bị ngã ra giữa đƣờng và bị tử vong sau đó.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng TNGT ngày 10/4/2017 phản ánh: Quốc lộ 8A đoạn km 33 + 300m thuộc địa phận thôn T, xã S1, huyện H2. Mặt đƣờng rộng 10,8m (trong đó phần đƣờng dành cho cơ giới rộng 6,8m, phần đƣờng dành cho xe thô sơ hai bên mỗi bên rộng 2m), ở giữa đƣờng có vạch đứt quảng màu vàng phân chia làn đƣờng. Lấy mép đƣờng phía Nam Quốc lộ 8A (bên phải theo chiều đi của xe mô tô 38P1-6082) làm mép đƣờng phải của vụ tai nạn giao thông. Trên hiện trƣờng để lại 02 vết cày: Vết cày thứ nhất dài 2,4m, điểm đầu cách mép đƣờng phải 3,75m, điểm cuối cách mép đƣờng phải 3,85m, vết cày có chiều hƣớng Tây – Đông (theo chiều đi của xe mô tô); Cách vị trí điểm cuối vết cày thứ nhất về phía Tây 0,2m là vị trí điểm đầu vết cày đứt quảng thứ hai trên mặt đƣờng nhựa, vết cày thứ hai dài 4,5m, điểm đầu cách mép đƣờng phải 3,4m, điểm cuối cách mép đƣờng phải 3,2m; Trên mặt đƣờng nhựa có 01 vùng mảnh vỡ không rõ hình, kích thƣớc 4m x 2,1m, trong vùng mảnh vỡ có 01 đôi dép nhựa màu đen, 01 chiếc gậy tre dài 2,73m, đƣờng kính 4cm, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đƣờng phải 5,4m.
Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 38P1-6082 phản ánh: Cánh ƣớm bên trái bị bung mấu; Đèn chiếu sáng phía trƣớc bên phải bị rách kích thƣớc 10cm; Đầu mút phanh tay phía trƣớc bên phải bị mài xƣớc kích thƣớc 1,5cm x 1cm; Toàn bộ mặt ngoài cánh ƣớm bên phải bị mài xƣớc chiều hƣớng từ trƣớc ra sau; Mặt ngoài bàn đạp chân phía sau bên phải bị mài xƣớc, kích thƣớc 12cm x 4cm, chiều hƣớng từ trƣớc ra sau.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi Phạm Ngọc H phản ánh: Vùng chẩm bị sập lún; Gãy cổ lỏng lẻo; khớp gối, cẳng chân trái sƣng nề biến dạng, gãy 1/3 giữa cẳng chân trái, tràn dịch khớp gối. Kết luận nguyên nhân chết do đa chấn thƣơng.
Bản cáo trạng số 27/Ctr- KSĐT ngày 15 tháng 6 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 202, tiết giữa điểm b, tiết đầu điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Văn P từ 12 đến 15 tháng tù; nhƣng cho hƣởng án treo; thời gian thử thác từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện H1 giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P đã chi phí bồi thƣờng cho gia đình bị hại ông Phạm Ngọc H số tiền 80.000.000đ (Tám mƣơi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hũy 01 chiếc gậy tre dài 2,73m, đƣờng kính 4cm.
Trả lại giấy phép lái xe số420157007017 hạng A1 mang tên Nguyễn Văn P đang đƣợc lƣu giữ ở hồ sơ vụ án. Còn 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 38P1- 6082 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên miễn xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Viện Kiểm Sát, lời khai nhận tội của bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Khoảng 6 giờ ngày 10/4 /2017, bị cáo điều khiển xe môtô biển kiểm soát 38P1- 6082 đi theo hƣớng từ xã S xuống xã S1. Khi đến km 33 + 300m Quốc lộ 8A thuộc địa phận thôn T, xã S, huyện H2, tỉnh Hà Tĩnh do chạy xe với tốc độ nhanh, bằng tay phải, trong khi tay trái cầm chiếc gậy tre dài khoảng 2,73m nên đã để xe mô tô đâm vào ngƣời ông Phạm Ngọc H khi ông H đang đi bộ qua đƣờng gây nên vụ tại nạn giao thông làm ông H bị tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm xe mô tô, biển bản khám nghiệm tử thi, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự nhƣ cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Văn P đƣợc học luật giao thông đƣờng bộ, có giấy phép lái xe hạng A1, đủ điều kiện và trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38P1-6082 tham gia giao thông. Lẽ ra, khi có ngƣời đi bộ qua đƣờng bị cáo phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép và có thể dừng lại an toàn nhƣng do ý thức chấp hành Luật giao thông đƣờng bộ kém, chạy xe tốc độ nhanh, thiếu quan sát, đi xe bằng một tay nên đã để xe của mình điều khiển đâm vào ngƣời ông Phạm Ngọc H gây ra vụ tại nạn giao thông, hậu quả làm ông H chết, lỗi thuộc về bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ vi phạm vào điểm a khoản 4 Điều 30 Luật giao thông đƣờng bộ, khoản 6 Điều 5 Thông tƣ số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải mà còn xâm phạm đến tính mạng của ngƣời khác, gây đau thƣơng mất mát cho gia đình ngƣời bị hại, ảnh hƣởng đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Vì vậy, hôm nay đƣa bị cáo Nguyễn Văn P ra xét xử và lên một mức án tƣơng xứng với hành vi hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên cũng cần xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội đã bồi thƣờng đầy đủ, tại phiên tòa khai báo thành khẩn, đại diện của ngƣời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối chiếu với Nghị quyết số 01 năm 2013 ngày 06 tháng 11năm 2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo nên áp dụng Điều 60 BLHS xử bị cáo ở mức 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo nhƣ đại diện VKS đề nghị là có căn cứ đúng pháp luật.
- Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại ông Phạm Ngọc H số tiền 80.000.000đ (Tám mƣơi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm và tại phiên tòa ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì nên miễn xét.
- Về vật chứng: 01 chiếc gậy tre dài 2,73m, đƣờng kính 4cm là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hũy theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Giấy phép lái xe số420157007017 hạng A1 mang tên Nguyễn Văn P đang đƣợc lƣu giữ ở hồ sơ vụ án là chứng thƣ pháp lý để chứng minh bị cáo là ngƣời đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô làm phƣơng tiện đi lại phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân nên cần trả lại cho bị cáo. Còn 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 38P1- 6082 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Cao K là đúng pháp luật nên miễn xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển
phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”
Áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn P 12 ( mƣời hai ) tháng tù; nhƣng cho hƣởng án treo; thời gian thử thách 24 ( hai bốn ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện H1, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Văn P thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hũy 01 chiếc gậy tre dài 2,73m, đƣờng kính 4cm, có đặc điểm nhƣ biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2017 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H2 và Chi cục thi hành án dân sự huyện H2, tỉnh Hà Tĩnh.
Trả lại giấy phép lái xe số 420157007017 hạng A1 mang tên Nguyễn Văn P đang đƣợc lƣu giữ ở hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử buộc: Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P , ông Phạm Ngọc H2, anh Nguyễn Cao K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận - VKS huyện; - Tòa án tỉnh; - Công an; - UBND xã H; - Chi cục T.H.A; - Bị cáo; - Ngƣời đại diện của ngƣời bị hại; - Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lƣu HS; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Đức Quang |