vanban.org

Bản án 249/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 27/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Đức T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức T - Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Đức T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/HS-ST
Ngày 27-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Đoàn

Bà Lưu Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 249/2025/TLST-HS ngày 21/11/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2025/QĐXXST-HS ngày 21/11/2025, đối với bị cáo:

Trần Đức T - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 2002; nơi sinh: Hà Nội; HKTT: Tổ dân phố Đ, xã G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Trần Hà Q và con bà: Cao Thị N; vợ: Lê Quỳnh A, có 01 con sinh năm 2025; TATS: Không. Nhân thân: Theo danh chỉ bản số 3458 ngày 16/10/2025 do Trại tạm giam số 2 lập và lý lịch bị can thì bị cáo có 01 tiền án: Ngày 15/11/2019, Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 45 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý (đã xóa án tích).

Bị bắt quả tang ngày 09/10/2025, tạm giữ từ ngày 10/10/2025 đến ngày 16/10/2025 áp dụng biện pháp tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 29/9/2025, Trần Đức T đi xe buýt đến khu vực N, Hưng Yên tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến nơi, T hỏi mua ma túy của 1 người đàn ông tên T1 không rõ tên tuổi, địa chỉ 1.000.000 đồng (trả bằng tiền mặt) gồm ma túy “Ketamine” và ma túy “Kẹo”. Sau khi mua ma túy xong, T đi mua 01 chiếc cân điện tử màu đen để cân ma túy và đi về nhà không nói cho ai biết. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/10/2025, Trần Đức T đang ở nhà tại số A đường T, thuộc tổ dân phố Đ, xã G, Hà Nội thì anh Nguyễn Đức T2 đến và lên quán B-a tại tầng 4 gặp Trần Đức T để hỏi mua 800.000 đồng ma tuý loại “Ketamin”. Trần Đức T đồng ý cầm số tiền 800.000 đồng cất vào túi quần đùi bên trái và đi xuống phòng ngủ ở tầng 2 lấy trên nóc tủ quần áo 01 túi ni lông chứa ma túy “Ketamine” bán cho anh Nguyễn Đức T2. Khi Trần Đức T cầm gói ma tuý bên tay trái đi lên tầng 4 chưa kịp đưa ma túy cho Nguyễn Đức T2 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, Trần Đức T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy “Ketamin” đang cầm ở lòng bàn tay trái, số tiền 800.000 đồng bên túi quần đùi bên trái. Ngoài ra, Trần Đức T còn khai nhận cất giấu 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy “Ketamin”, 01 túi nilong chứa 02 viên nén màu vàng là ma túy “kẹo", 01 cân điện tử màu đen Trần Đức T dùng để cân ma túy bán cho khách để ở nóc tủ quần áo phòng ngủ ở tầng 2 không nói cho ai biết. Trần Đức T đã giao nộp toàn bộ số ma túy trên cho Cơ quan Công an.

Tại bản Kết luận giám định số 7147/KL- KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Vật chứng thu giữ tại tầng 2 nhà số A, Tổ dân phố Đ, xã G, Hà Nội gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma tuý loại Ketamine, khối lượng 1,141 gam; 02 viên nén màu vàng bên trong 01 túi nilông đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,060 gam; 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Ketamine.

- Vật chứng thu giữ tại tầng 4 nhà số A, tổ dân phố Đ, xã G, Hà Nội gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,532 gam.

- Trong mẫu nước tiểu của Trần Đức T thu ngày 09/10/2025 có tìm thấy 11-Nor- 9-carboxy-THC (11-Nor-9-carboxy-THC là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Delta-9-Tetrahydrocanabinol trong cơ thể người).

- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức T2 thu ngày 09/10/2025 không tìm thấy chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKSKV5 ngày 14/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Đề xuất xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2025.

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cân điện tử; toàn bộ số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định.

+ Tịch thu sung công: Tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng tiền ngân hàng N1 liên quan đến hành vi phạm tội.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về tội danh:

[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận định giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 09/10/2025, tại số nhà A đường T thuộc tổ dân phố Đ, xã G, Hà Nội, Trần Đức T có hành vi bán 0,532 gam ma tuý loại “Ketamine” cho Nguyễn Đức T2 với giá 800.000 đồng nhưng chưa kịp đưa ma tuý cho Nguyễn Đức T2 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Ngoài ra, Trần Đức T còn cất giấu 1,141 gam ma tuý loại Ketamine, khối lượng và 02 viên nén màu vàng bên trong 01 túi nilông đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,060 gam mục đích bán cho đối tượng nghiện.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

[4]. Hành vi của bị cáo Trần Đức T đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[6]. Về tình tiết tăng nặng: Nhân thân của bị cáo có 01 tiền án: Ngày 15/11/2019, Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 45 tháng tù giam về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; bị cáo chấp hành xong hình phạt từ ngày 13/5/2022; đã đóng 200.000 đồng án phí HSST theo biên lai số 1416 ngày 26/02/2020. Tiền án này của bị cáo đã được xóa nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo dang bị bệnh hiểm nghèo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về việc áp dụng hình phạt:

[8]. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên.

[9]. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Về hình phạt bổ sung:

[10]. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về xử lý vật chứng:

[11]. Thu giữ 01 phong bì bên trong niêm phong bên ngoài có chữ ký của bị cáo Trần Đức T, giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an xã N, bên trong là 01 cân điện tử bị cáo dùng để cân ma túy bán cho cong nghiện, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

[12]. Thu giữ 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của bị cáo Trần Đức T, giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an xã N, bên trong là: 01 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng bên trong là ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 2), khối lượng 1,141 gam; 01 túi nilong bên trong có 02 viên nén màu vàng đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 2), tổng khối lượng 1,060 gam; 01 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng bên trong là ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 4), khối lượng 0,532 gam (theo Bản kết luận giám định số 7147/KL-KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố Hà Nội) là số ma túy thu giữ được của bị cáo Trần Đức T, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

[13]. Thu giữ của bị cáo số tiền 800.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ.

- Về các vấn đề khác:

[14]. Đối với đối tượng tên T1 bán ma túy cho bị cáo Trần Đức T do không xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

[15]. Đối với Nguyễn Đức T2, ngày 09/10/2025 là lần đầu tiên mua ma túy của Trần Đức T mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp nhận ma túy từ Trần Đức Thắng thì bị công an bắt quả tang. Qua kết quả xét nghiệm nước tiểu, Nguyễn Đức T2 âm tính với ma túy nên Công an thành phố Hà Nội không xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức T2 là có căn cứ.

[16]. Qua kết quả xét nghiệm nước tiểu của Trần Đức T có tìm thấy 11-Nor-9-carboxy-THC (11-Nor- 9-carboxy-THC là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Delta-9-Tetrahydrocanabinol trong cơ thể người). Ngày 04/11/2025, Công an xã G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đức T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ.

[17]. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Về án phí:

[18]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

[19]. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Đức T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2025.

2. Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

3.1.1. Một phong bì bên trong niêm phong bên ngoài có chữ ký của bị cáo Trần Đức T, giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an xã N, bên trong là 01 cân điện tử;

3.1.2. Một phong bì bên trong niêm phong bên ngoài có chữ ký của bị cáo Trần Đức T, giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an xã N, bên trong là: 01 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng bên trong là ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 2), khối lượng 1,141 gam; 01 túi nilong bên trong có 02 viên nén màu vàng đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 2), tổng khối lượng 1,060 gam; 01 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng bên trong là ma túy loại Ketamine (thu giữ tại tầng 4), khối lượng 0,532 gam (theo Bản kết luận giám định số 7147/KL-KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố Hà Nội).

(Hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày số 2025/KV5 ngày 25/11/2025).

3.2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 800.000 đồng của bị cáo Trần Đức T.

(Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 39490905246300000 (tên tài khoản Công an thành phố Hà Nội, tại Kho bạc Nhà nước khu vực 1 ngày 21/10/2025)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ