vanban.org

Bản án 249/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Phúc Th, sinh ngày 08-4-2010 (Giới tính: Nam). Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H ly hôn anh Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung” giữa chị H và anh T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Việt Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

- Thư ký phiên toà: Ông Lã Ngọc Tiền – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Hạnh – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1980; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: Số 300 đường V, phường Q, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Số 300 đường V, phường Q, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

* Bị đơn: Anh Trần Ngọc Th, sinh năm 1976; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: Số 300 đường V, phường Q, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Số 300 đường V, phường Q, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà: Chị Đỗ Thị Ngọc H có mặt. Anh Trần Ngọc Th vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Ngọc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc Th tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn tại UBND phường Quang Trung, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ngày 20-02-2000. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không hoà hợp, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên hay xảy ra va chạm cãi vã. Vợ chồng có hoà giải nhưng không có kết quả, đến đầu năm 2025 thì mâu thuẫn ngày càng căng thẳng trầm trọng, vợ chồng không nói chuyện, không quan tâm đến nhau từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Ngọc Th .

- Về con chung: Chị Đỗ Thị Ngọc H xác nhận, vợ chồng chị có 02 con chung là Trần Minh T, sinh ngày 20-9-2000 (Giới tính: Nam) và Trần Phúc Th, sinh ngày 08-4-2010 (Giới tính: Nam). Đối với cháu Trần Minh T đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Phúc Th, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị Đỗ Thị Ngọc H không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Bị đơn là anh Trần Ngọc Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Th không đến Toà án làm việc nên không có quan điểm giải quyết vụ án.

3. Cháu Trần Phúc Th có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Đỗ Thị Ngọc H.

4. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án, chính quyền địa phương nơi ở hiện tại của anh Trần Ngọc Th và chị Đỗ Thị Ngọc H xác nhận: Anh Trần Ngọc Th và chị Đỗ Thị Ngọc H hiện cư trú tại số 300 đường V, phường Q, thành phố Nam Định. Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th có 02 con chung là Trần Minh T và Trần Phúc Th. Quá trình chung sống giữa chị H và anh Th có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được. Nay chị H có đơn xin ly hôn, nuôi con chung với anh Th thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Th chưa tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Ngọc H với anh Trần Ngọc Th.

Về con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Trần Phúc Th cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, nợ chung vợ chồng: chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Trần Ngọc Th đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Ngọc Th.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn vào ngày 20-02-2000 tại UBND phường Quang Trung, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do nảy sinh nhiều bất đồng, quan điểm hai bên không hoà hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Do không hòa giải được nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng trầm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tạo điều kiện để hai bên hòa giải đoàn tụ nhưng anh Th không có mặt, chị H giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết ly hôn với anh Trần Ngọc Th. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Th mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th.

Về nuôi con chung: Chị Đỗ Thị Ngọc H có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, cháu Trần Phúc Th cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Phúc Th, sinh ngày 08-4-2010 (Giới tính: Nam). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Th không có quan điểm về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Đỗ Thị Ngọc H phải nộp toàn bộ án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Phúc Th, sinh ngày 08-4-2010 (Giới tính: Nam).

Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Ngọc H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đỗ Thị Ngọc H đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002616 ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

4. Quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Ngọc Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc Th có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ