vanban.org

Bản án 249/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị Hồng T số tiền nợ là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 18/12/2023, số công chứng 024459, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng D. Thi hành ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/DS-ST
Ngày: 08 - 5 - 2025
V/v tranh chấp Hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Phương Hồ;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 199/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hồng T, sinh năm 1978;

Nơi đăng ký thường trú: Số E đường N, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện tại: Số C đường C, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1994;

Nơi đăng ký thường trú: Số B Đường số F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 25/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Đỗ Thị Hồng T trình bày:

Do có quan hệ quen biết vì làm chung công ty nên vào tháng 12/2023, bà Nguyễn Thị Thu T1 có hỏi vay bà số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Do đó, bà và bà T1 có đến Văn phòng công chứng D để lập Hợp đồng vay tiền số công chứng 024459, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/12/2023 với nội dung thỏa thuận bà cho bà T1 vay số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, thời hạn vay là 01 (một) năm kể từ ngày công chứng, lãi suất 0%. Ngay sau khi ký hợp đồng vay tiền bà đã giao cho bà T1 số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Khi đến thời hạn ngày 18/12/2024, bà có yêu cầu bà T1 trả số tiền nêu trên thì bà T1 không thực hiện và hẹn đến tháng 5/2025. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà T1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, không yêu cầu trả lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Số tiền bà cho bà Nguyễn Thị Thu T1 vay là tiền cá nhân của bà, không liên quan đến chồng bà là ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1976 ngụ tại Số E đường N, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà không yêu cầu chồng của bà T1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T1 vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 25/12/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại Số B Đường số F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng:

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu T1 theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại Điều 2 của Hợp đồng vay tiền ngày 18/12/2023 có nội dung “Bên A cam kết số tiền cho vay là tài sản riêng hợp pháp của bên A” và “Bên B cam kết sử dụng số tiền vay vì mục đích cá nhân riêng của bên B…”. Tại Biên bản ghi nhận sự vắng mặt ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, bà T trình bày số tiền bà cho bà T1 vay là tiền cá nhân của bà, không liên quan đến chồng bà là ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1976 ngụ tại Số E đường N, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời tại phiên tòa, bà T trình bày bà không yêu cầu chồng bà T1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ. Do đó, Tòa án không đưa ông Huỳnh Văn D và chồng bà T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Về hình thức:

Hợp đồng vay tiền ngày 18/12/2023 giữa bà Đỗ Thị Hồng T và bà Nguyễn Thị Thu T1 được công chứng tại Văn phòng công chứng D, số công chứng 024459, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD là phù hợp quy định tại Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 25/12/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền lập ngày 18/12/2023, không yêu cầu tính lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án để cung cấp lời khai, trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án là có cơ sở.

Hợp đồng vay tiền giữa bà Đỗ Thị Hồng T và bà Nguyễn Thị Thu T1 được lập tại Văn phòng công chứng D ngày 18/12/2023, số công chứng 024459, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD. Nội dung hợp đồng thể hiện bà Đỗ Thị Hồng T cho bà Nguyễn Thị Thu T1 vay số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, thời hạn vay là 01 (một) năm kể từ ngày công chứng, lãi suất 0%. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo thỏa thuận thì Hợp đồng vay tiền ngày 18/12/2023 là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại Khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đến hạn ngày 18/12/2024, bà T yêu cầu bà T1 trả nợ nhưng bà T1 không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T. Do đó, bà T yêu cầu bà T1 trả lại số tiền nợ 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị Hồng T số tiền nợ là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 18/12/2023, số công chứng 024459, quyển số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng D.

Thi hành ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T1 chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu án phí là 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

Hoàn lại cho bà Đỗ Thị Hồng T số tiền tạm ứng án phí là 2.000.000 (hai triệu) đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0063441 ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ