- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình H, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2023/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về phần hình phạt, thành phố Hà Nội, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249 /2024/HS-PT Ngày: 28/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh - Thẩm tra viên chính.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024; tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2024/TLPT-HS ngày 06/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 157/2024/QĐXXPT-HS ngày 27/02/2024 đối với bị cáo Bùi Đình H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HSST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Đình H, sinh năm 1986 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã L, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình H1 và bà Nguyễn Thị Ú; vợ: Trịnh Thị K; con: 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Văn Trường C - Văn Phòng L, Đoàn Luật sư thành phố H.
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1983 - vắng mặt;
- Chị Ngô Thị Thu H2, sinh năm 1985 - vắng mặt;
Đều cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần M; Địa chỉ: Số C đường Q, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trung T1 - Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình C1 - Giám đốc Xí nghiệp V, Công ty cổ phần M (Giấy ủy quyền số: 169/UQ-CT ngày 09/12/2023) .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 29/4/2023, Bùi Đình H điều khiển xe ô tô BKS: 29C -41128 chở rác từ quận H, thành phố Hà Nội lên Nhà máy điện rác N, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 19h30 cùng ngày, sau khi đổ rác xong, H điều khiển xe quay về Hà Nội theo hướng bãi rác N - Đường C. Khi H đi được khoảng 500 - 700m, đến ngã tư thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội, xe ô tô do H điều khiển va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, BKS: 29S6 - 46767 do cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ điều khiển đi từ đường bên phải đến (đường vào thôn L) theo chiều xe ô tô, hậu quả cháu Đ bị thương nặng và tử vong ngày 01/5/2023, xe ô tô và mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường (bút lục 73-74):
- Vị trí xảy ra tai nạn là ngã tư giao giữa đường vào Nhà máy điện rác N và đường thôn Đ, xã N, mặt đường rải nhựa nhẵn phẳng, đường rộng 10m50, giữa đường có vạch sơn đơn, nét đứt chia hai chiều đi. Chiều đường nhà máy điện rác N đi Đường C có biển giao nhau với đường không ưu tiên, chiều đường vào thôn L có biển báo giao nhau với đường ưu tiên. Lấy mép đường giả tạo (đường giao) bên phải chiều nhà máy Đ1 đi đường C làm chuẩn.
- Vị trí xe ô tô BKS: 29C - 411.28 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng Đường C, đuôi xe hướng Nhà máy điện rác N. Đo từ mặt ngoài tâm trục bánh trước bên phải vào mép chuẩn là 4m75, mặt ngoài tâm trục bánh sau cuối bên phải đo vào là 4m40. Đo từ tâm trục bánh trước xe ô tô về hướng Đường C 0m55 là vị trí tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 29S6 - 467.67.
- Vị trí xe mô tô BKS: 29S6 - 467.67 đổ nghiêng phải dưới gầm đầu xe ô tô BKS: 29C - 411.28, đầu xe hướng thôn Đ, đuôi xe hướng thôn L. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô vào mép đường chuẩn là 6m60, đo từ tâm trục bánh sau vào là 5m30. Từ tâm trục bánh sau xe mô tô do về hướng Đường 35 6m8 là vị trí cột Km1+100 (cắm bên trái đường).
- Xe mô tô đổ để lại vết cày trên mặt đường nhựa dài 13m, đầu vết cày hình vòng cung từ phải sang trái theo chiều Nhà máy điện rác N đi Đường C. Đo từ đầu vết cày vào mép đường làm chuẩn là 4m15, cuối vết cày trùng giá để chân trước bên phải.
- Vùng dung dịch màu hồng (máu nạn nhân) để lại trên mặt đường nhựa có kích thước 0m30 x 0m20. T2 vùng dung dịch đo vào mép đường làm chuẩn là 2m90, tâm vùng dung dịch đo về hướng đường 35 3m10 là vị trí tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô chở rác BKS: 29C - 41128.
* Kết quả khám nghiệm xe ô tô BKS: 29C - 411.28 xác định (bút lục 88 - 89):
- Mặt ngoài cụm đèn báo sáng phía trước bên phải có dấu vết trượt miết cong gập sợi bóng đèn chiếu sáng chiều từ phải sang trái, kích thước 3x3cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 103cm.
- Mặt ngoài mép bên phải cản đà trước có dấu vết trượt miết biến dạng chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, kích thước 7x1cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 71cm.
- Mặt ngoài bên phải đầu cản đà trước có dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn, dấu vết có chiều từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, kích thước 22x12cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 86cm. Trên bề mặt dấu vết còn bám dích chất mùn màu đen dạng cao sứ và chất mùn màu xanh dạng sơn.
- Mặt ngoài phía dưới bên phải cản đà trước có dấu vết trượt xước mất sơn, chiều từ phải sang trái, kích thước 35x9cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 65cm, điểm gần nhất cách mép ngoài cùng bên phải 20cm.
- Mặt ngoài bên phải bậc lên xuống phía trước xe có dấu vết trược xước, xô lệnh chiều từ phải sang trái, kích thước 14x7cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 49cm.
- Mặt ngoài phía trước bậc lên xuống có dấu vết trượt miết sạch bụi bẩn, kích thước 9x2cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 33cm.
- Mặt ngoài dấu rà phía trước khung giá đỡ két nước có dấu vết trượt xước, mài mòn biến dạng kim loại chiều từ trước về sau, từ phái sang trái, kích thước 59x11cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 46cm,
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS: 29S6 - 467.67 xác định (bút lục 90
- 91):
- Mặt ngoài đầu núm tay nắm lái bên trái có dấu vết trượt xước kim loại, kích thước 3x3cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 120cm, trên bề mặt bám dích chất mùn màu trắng dạng sơn.
- Mặt ngoài phía trước ốp tay nắm lái bên trái có dấu vết trượt miết cao su, kích thước 2,5x1,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 113cm.
- Mặt ngoài bên trái đầu chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt miết chiều từ trước về sau, kích thước 8x2cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 58cm, trên bề mặt còn bám dính chất mùn màu đen.
- Mặt ngoài phía dưới ốp bưởng máy và thanh cần số bên trái có dấu vết trượt xước mài mòn kim loại, chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước 14x8,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất khi xe đổ nghiêng phải là 45cm.
- Mặt ngoài ốp sườn xe bên trái có dấu vết trượt xước biến dạng, chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước 20x20cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 50cm.
- Mặt ngoài ốp đầu xe trước có dấu vết trượt xước mất sơn, chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, kích thước 24x14cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 88cm. Trên bề mặt còn bám dính bột đất đá.
- Đầu tay nắm lái bên trái có dấy vết trượt xước kích thước 3x3cm, điểm thếp nhất cách mặt đất 94cm, trên bề mặt còn bám dính bột đất đá.
- Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, biến dạng có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải, kích thước 1x1cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 58cm.
- Đầu giá để chân trước bên phải có dấu vết trượt xước, biến dạng chiều từ trên xuống dưới, trên bề mặt còn bám dính bột đất đá.
- Mặt ngoài bên phải tay nâng phía sau có dấu vết trượt xước chiều từ trên xuống dưới, kích thước 18x3cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 72cm.
- Mặt ngoài ống xả có dấu vết trượt xước, biến dạng chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước 15x7cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 25cm, trên bề mặt còn bán dính bột đất đá.
* Kết quả khám nghiệm tử thi (bút lục 103): Gia đình nạn nhân Nguyễn Ngọc Anh Đ từ chối việc pháp y mổ tử thi và xác định nguyên nhân cháu Nguyễn Ngọc A Đ tử vong là do tai nạn giao thông.
Kết quả khám bên ngoài tử thi cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ xác định (bút lục 103 - 104):
- Đầu và mặt: Bầm tím da vùng chẩm; bầm tím da mắt trái; sây sát da đang đóng vảy vùng má, thái dương trái; vùng đỉnh trái có 02 vết dẫn lưu; vùng trán, thái dương đỉnh trái có vết mổ còn chỉ khâu; sờ nắm thấy khuyết xương thái dương đỉnh trái; sây sát, bầm tím da vùng trán đỉnh trái; sưng nề vùng đỉnh chẩm phải; sây sát da hai tay; sây sát da vùng lưng; sây sát da hai chân.
- Trong mẫu máu của Nguyễn Ngọc Anh Đ không tìm thấy E.
* Tại bản Bản kết luận giám định số: 3920/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của V1 - Bộ C2 kết luận:
- Dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS: 29C- 41128 và xe mô tô BKS: 29S6 - 46767:
+ Dấu vết trượt xước, mất chất màu trắng, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía trên bên phải chắn đà trước xe ô tô biển số 29C - 41128 có chiều từ phải sang trái, phù hợp dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng, mất chất màu đen ở cụm tay lái bên trái xe mô tô BKS: 29S6 - 46767. Dấu vết va chạm ở xe mô tô BKS: 29S6 - 46767 tại các vị trí này có chiều từ trước về sau.
+ Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh ở mặt ngoài phía dưới chắn đà trước xe ô tô biển số 29C - 41128 có chiều từ phải sang trái, phù hợp dấu vết trượt xước, mất chất màu xanh ở yếm chắn gió trước bên trái xe mô tô BKS: 29S6 – 46767. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 29S6 - 46767 tại các vị trí này có chiều từ trước về sau.
+ Dấu vết trượt xước, biến dạng ở phía dưới bên phải ốp kim loại két nước gầm đầu xe ô tô biển số 29C - 41128 có chiều từ phải sang trái, phù hợp dấu vết trượt xước ở cần số trước, lốc máy bên trái xe mô tô biển số 29S6 - 46767 đã đổ nằm nghiêng bên phải xuống đường. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 29S6 - 46767 tại các vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Vị trí va chạm đầu tiên trên phương tiện: Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 29C - 41128 và xe mô tô BKS: 29S6 - 46767.
Tại Kết luận định giá tài sản số 379/KL-HĐ ngày 10/11/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: Xe ô tô BKS: 29C - 411.28 bị thiệt hại tài sản trị giá 238.700 đồng; xe mô tô 29S6 - 467.67 bị thiệt hại tài sản trị giá 156.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 266/CT-VKS ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Bùi Đình H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Bùi Đình H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Ngày 05/01/2024, bị cáo Bùi Đình H có đơn kháng cáo đề nghị giảm hình phạt và cho hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải, xin được hưởng án treo.
- Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị:
+ Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
+ Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung theo đơn kháng cáo, xin giảm hình phạt và được hưởng án treo. Xét thấy án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn nhận tội, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội vô ý nên đề nghị chấp nhận kháng cáo cho bị cáo hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định người bị cáo Bùi Đình H có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị cáo.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19h giờ 30 ngày 29/4/2023, Bùi Đình H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Daewoo BKS 29C-41128 từ Nhà máy điện rác N về Hà Nội theo hướng bãi rác N - Đường C. Khi H đi được khoảng 500-700m đến ngã tư giao giữa đường vào Nhà máy điện rác N với đường vào thôn Đ, xã N, huyện S thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29S6-46767 do cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ điều khiển sang đường từ bên phải theo chiều xe ô tô, hậu quả cháu Đ bị thương nặng và tử vong ngày 01/5/2023.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2023/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Bùi Đình H 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn nhận tội, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội do lỗi vô ý nên có thể chấp nhận kháng cáo cho bị cáo hưởng án treo
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình H, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2023/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về phần hình phạt, thành phố Hà Nội, cụ thể:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đình H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Đình H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời than thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND; VKSND, CA, Chi cục THADS Huyện Sóc Sơn; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - PC 27 CAHN; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu trữ, Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Anh Tuấn |