vanban.org

Bản án 249/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích T. Cho chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 121 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh An Giang, cấp ngày 22 tháng 10 năm 2014 cho chị Trần Thị Bích T với anh Trần Văn Th, không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Giao các cháu có 03 con chung tên Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Bích T với Trần Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích T. Cho chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:249/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2023
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Thoa

2. Bà Phan Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 394/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 479/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 519/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh An Giang, (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Bích T trình bày:

Chị và anh Trần Văn Th quen biết, tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2014, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian chung sống được khoảng cuối năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ thời gian đó đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Th.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013; hiện các cháu sống cùng với chị Tuyền; Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung; không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bản sao, Giấy khai sinh, 03 con chung; Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày của chị T ngày 01/6/2023; trích lục kết hôn;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên chị T, anh Th xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Tuyền vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với lý do anh Th. Anh Th được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị T. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.

Tại bản trình bày ý kiến của Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013 thể hiện nguyện vọng trường hợp cha mẹ ly hôn, cháu mong muốn được sống cùng mẹ.

Tại phiên tòa, chị T có đơn xin vắng, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Th, nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung; anh Th vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Bích T và anh Trần Văn Th tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C vào ngày 22/10/2014 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra cự cãi, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu ly hôn với anh Th.

Xét thấy từ khi chị T gửi đơn khởi kiện, anh Th không có ý kiến phản hồi, cũng như không tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không đến thăm nhau để hàn hắn tình cảm vợ chồng, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã ngày càng trầm trọng. Mặc khác, chị T xác định không còn tình cảm với anh Th nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc, nên việc chị T xin ly hôn với anh Th là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 03 con chung Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013; hiện các cháu sống cùng với chị T; Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung; không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ khi chị T, anh Th ly thân các cháu Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013; sống với chị Tuyền vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần.

Mặt khác, cháu có nguyện vọng sống chung với chị T. Để ổn định cho cuộc sống của cháu, nên để chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập đến.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề cập giải quyết.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích T đối với anh Trần Văn Th.

- Chị Trần Thị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013. Anh Trần Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp:

Chị Tuyền khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Th, vợ chồng có 03 con chưa thành niên, được xác định là tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung”quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền:

Bị đơn Trần Văn Th có nơi cư trú tại địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện C, tỉnh An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Về tính hợp pháp:

Chị T, anh Th quen biết, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, không ai lừa dối hay ép buộc; có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C ngày 22/10/2014 thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

Về tình trạng hôn nhân:

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẩn và ly thân cho đến nay; chị T yêu cầu ly hôn với anh Th không có ý kiến phản hồi thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm; chị T xác định không còn tình cảm với anh Th và kiên quyết xin được ly hôn.

Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị T, anh Th phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của chị T xin ly hôn với anh Th theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 03 con chung tên Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013; hiện các cháu sống cùng với chị T; Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung; không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ khi chị T, anh Th ly thân các cháu Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013; sống với chị T vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, cháu có nguyện vọng sống chung với chị T. Để ổn định cho cuộc sống của các cháu, nên để chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập đến.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;

Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Anh Th không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Các Điều 144, 147, 273, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích T. Cho chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 121 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh An Giang, cấp ngày 22 tháng 10 năm 2014 cho chị Trần Thị Bích T với anh Trần Văn Th, không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao các cháu có 03 con chung tên Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013 cho chị Trần Thị Bích Tuyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Trần Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Trần Thị Bích T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Văn Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Khánh B, sinh ngày 12/02/2008, Trần Khánh D, sinh năm 21/11/2005, Trần Khánh T1, sinh ngày 10/02/2013.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.

4.Về án phí: Chị Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013707 ngày 01 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang; chị Tuyền đã nộp xong.

Anh Trần Văn Th không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Chị Trần Thị Bích T, anh Trần Văn Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ