vanban.org

Bản án 249/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2022/HS-ST
Ngày: 08 – 9 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Dương Thị Bạn;

- Bà Trần Kim Thoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 258/2022/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Trung K, sinh năm 1988 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: 266 đường THĐ, tổ 7, khu phố 9, phường BĐ, thị xã BS, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N (đã chết) và bà Mai Thị M; bị cáo có vợ tên Phan Thị Trúc H (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022 đến nay, có mặt.

Người làm chứng: Ông Phan Thế S, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 24/4/2022, bị cáo K nhờ một người bạn tên Hiếu mua dùm ma túy để sử dụng với số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, K đi đến bãi đất trống thuộc phường TG, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ, cao khoảng 1,6 mét, nói giọng miền nam, mang khẩu trang che kín mặt) nhận 01 (một) gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy, K cất giấu trong ví da màu đen bỏ trong túi quần phía sau bên phải rồi đem về phòng trọ để sử dụng dần. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 25/4/2022, K đem số ma túy trên đi tìm chỗ sử dụng, khi đi đến trước quán ốc Hà Lê tại ngã ba giao nhau giữa đường DA7 và NA11 thuộc khu phố HL2, phường TG, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường TG tuần tra phát hiện bắt quả giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 ví da màu đen.

Kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 26/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,4647 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số: 246/CT-VKS-TA ngày 16/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trung K mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 bì thư được niêm phong, ghi vụ số 204/PC09 chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) ví da màu đen là vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 25/4/2022, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường DA7 và NA11 thuộc khu phố HL2, phường TG, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đỗ Trung K có hành vi tàng trữ trái phép 0,4647 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Đỗ Trung K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thường của con người. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, do đó cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với: Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 204/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đen, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tượng tên Hiếu và đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trung K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 204/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 ví da màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/8/2022).

3. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ