- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249/2020/HNGĐ-ST Ngày 30/7/2020 V/v: “ Ly hôn ’’ -Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Vân 2. Bà Trịnh Thị Loan nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa . sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 về “Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1996. Có mặt Địa chỉ: Thôn X, xã Hoằng Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa Bị đơn: Anh Trương Văn V, sinh năm 1988. Vắng mặt Địa chỉ: Thôn S, xã Hoằng Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Lê Thị Th vắng mặt bị đơn anh Trương Văn V. | Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2020, bản tự khai ngày 06/6/2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị Th đã trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Trương Văn V có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, được UBND xã Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 19/01/2017. Sau khi cưới vợ chồng chung sống được một khoảng thời gian rất ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do giữa tôi và anh Việt bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, chúng tôi đã sống ly thân kể từ tháng 3 năm 2017 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không nên tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa cho tôi được ly hôn với anh Trương Văn V.
Về con: Tôi và anh Trương Văn V không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Trương Văn V nhưng anh V không đến làm việc theo giấy triệu tập. Tại bản khai của bà Lê Thị H - ngày 12/6/2020 (Bà Hoàn là mẹ đẻ anh Trương Văn Vt) đã trình bày:
Về hôn nhân: Con trai tôi là Trương Văn V và cô Th tự nguyện tìm hiểu, tổ chức cưới và Đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoằng Phụ vào năm 2017. Vợ chồng V và Th chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, khi V đi làm ăn thì Th không đồng ý và cả hai cãi nhau nên Th bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Nay cô Th làm đơn xin ly hôn với con trai tôi, việc này Th cũng đã trao đổi với V và gia đình, chúng tôi nhiều lần động viên các con nhưng không thay đổi được quan điểm của cả hai. V cũng đồng ý thống nhất theo nguyện vọng của Th, tôi cũng tôn trọng suy nghĩ và quyết định của cô ấy, động viên không được thì cũng đành chịu. Việt do bận công tác nên không thể có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án được nên có nhờ tôi nhận thay tất cả văn bản tố tụng của Tòa án. Tôi xin nhận thay và cam đoan giao lại ngay các văn bản cho V, còn V có đến được không là do sự sắp xếp của con.
Về con chung: Anh V và chị Th không có con chung.
Về tài sản: Anh V và chị Th không có tài sản gì chung.
Tại phiên tòa ngày 29/7/2020 anh Trương Văn V đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng không có mặt, tại phiên tòa hôm nay anh không đến, HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 BLTT Dân sự xử vắng mặt anh Trương Văn Việt.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị th không có sự thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ về yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Lê Thị Th và bị đơn là anh Trương Văn V đều có nơi cư trú tại xã Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, và chị Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn, như vậy đây là tranh chấp được quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện là Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa.
Tại phiên tòa ngày 29/7/2020 anh V đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa; Tại phiên tòa hôm nay anh Việt tiếp tục vắng mặt, căn cứ điều 228 BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt anh Trương Văn V.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Trương Văn V kết hôn tự nguyện, được UBND xã Hoằng Phụ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân ly hôn là do bất đồng quan điểm sống và thường xuyên mâu thuẫn. Trong bản tự khai của chị Th thì chị cho rằng tình cảm vợ chồng chị đã không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V. Tại phiên tòa hôm nay chị Th vẫn giữ nguyên quan điểm là cương quyết ly hôn anh V , do thời gian vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Hoàn – mẹ đẻ của anh V cũng có quan điểm cho rằng anh V biết việc chị Th yêu cầu ly hôn và thống nhất với nguyện vọng của chị Th. Như vậy mâu thuẫn giữa chị Th và anh V đã đến mức trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của anh chị không thể kéo dài, nên cần xử để chị Lê Thị Th và anh Trương Văn V được ly hôn là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản: Hai bên không yêu cầu nên tòa miễn xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Th phải chịu toàn bộ án phí dân sự trong vụ án ly hôn. Chị đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0009897 ngày 26/5/2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Xử:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Trương Văn V được ly hôn.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự trong vụ án ly hôn, chị đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí AA/2019/0009897 ngày 26/5/2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa.
Chị Lê Thị Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với anh Trương Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND h. Hoằng Hóa; - Chi cục THA DS h. Hoằng Hóa; - UBND xã Hoằng Phụ ; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phƣơng |