- Tranh chấp gì? án hình sự — "HÌNH SỰ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 249/2019/HS-ST Ngày: 15 – 10 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Tâm;
Ông Trƣơng Văn Sinh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 254/2019/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 252/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Quang P, sinh năm 1980 tại Thành phố H; nơi cƣ trú: LB, phƣờng L, quận C, thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1953 và bà Trịnh Thị L , sinh năm 1950; có vợ tên Trần Thị L1, sinh năm 1991 và 02 ngƣời con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 25/4/2018 bị UBND phƣờng Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 07/QĐ-UBND; nhân thân: Ngày 29/4/2004 bị Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ bằng hình thức phạt tiền theo; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2019 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng K, sinh năm 1973; nơi cƣ trú: Ô 40 DC10, đƣờng 16, khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ung Thanh P, sinh năm 1993. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/4/2019 tại trƣớc quán Karaoke Ánh Sao Đêm, thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an phƣờng Thuận Giao tiến hành kiểm tra chiếc xe ô tô hiệu Mazda CX5 màu trắng mang biển kiểm soát số 61A-54436 đang đỗ trên đƣờng của ông Nguyễn Trọng K thì phát hiện tại hộc đựng nƣớc của cánh cửa phụ phía trƣớc bên phải có: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 gói nylon miệng hở đựng 03 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) và 01 nắp nhựa màu xanh bên trên có gắn một ống thủy tinh và 01 ống hút nhựa (là dụng cụ sử dụng ma túy) nên đã đƣa về trụ sở Công an làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Lê Quang P và Nguyễn Trọng K là bạn bè. Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 12/4/2019, P đi đến khu vực bãi đất trống thuộc phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng gặp một ngƣời đàn ông (không rõ lai lịch) mua 2.000.000 đồng ma túy rồi đem về nhà cất giấu. Đến ngày 13/4/2019 P có nhờ Nguyễn Trọng K chở đi lấy xe mô tô mƣợn của một ngƣời bạn ở thì K đồng ý. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng K điều khiển xe ô tô biển số 61A-544.36 hiệu Mazda CX5 đến chỗ ở của Lê Quang P (đối diện với quán Karaoke Ánh Sao Đêm). Trƣớc khi K đến P đã lấy số ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu vào trong ngƣời để tìm chỗ sử dụng. Trong lúc P đợi K đi vệ sinh thì P thấy có lực lƣợng Công an đến kiểm tra, do trong ngƣời P đang cất giấu ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, sợ bị phát hiện nên P đã mở cửa xe ô tô của K bỏ ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào trong hộc đựng nƣớc của cánh cửa phụ phía trƣớc bên phải xe ô tô của K, sau đó chạy qua chỗ giữ xe của quán Karaoke Ánh Sao Đêm ngồi chung với nhóm thanh niên thì bị lực lƣợng Công an phƣờng Thuận Giao mời về phƣờng làm việc, tại cơ quan Công an Lê Quang P đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, Nguyễn Trọng K còn khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 13/4/2019, K điều khiển xe ô tô đi đến ngã tƣ Ga, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh mua 300.000 đồng ma túy của một ngƣời đàn ông chạy xe ôm. Sau đó, K điều khiển xe về tới đƣờng số 10 của khu công nghiệp Visip, Thuận An, Bình Dƣơng thì dừng xe lại và sử dụng hết số ma túy mới mua ngay trên xe.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon miệng hở đựng 03 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 nắp nhựa màu xanh bên trên có gắn một ống thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 xe ô tô hiệu Mazda CX5 biển số 61A-544.36; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61A-544.36.
Kết luận giám định số 314/MT-PC09 ngày 22/4/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma túy, có trọng lƣợng 0,1977 gam (M1); 0,8238 gam (M2); 3,5482 gam (M3) loại Methamphetamine, tổng trọng lƣợng 4,5697 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 267/CT-VKS-TA ngày 30/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Quang P về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố đối với bị cáo là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
+ Đối với xe ô tô biển số 61A-544.36 hiệu Mazda CX5, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Trọng K nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Nguyễn Trọng K.
+ Đối với số ma túy còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với đối tƣợng đã bán ma túy cho Lê Quang P, Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An đã tiến hành điều tra nhƣng do không có thông tin đầy đủ về ngƣời này nên Cơ quan cảnh sát điều tra chƣa có căn cứ để xử lý.
+ Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Trọng K, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền.
+ Đối với đối tƣợng đã bán ma túy cho K tại ngã tƣ Ga, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã gửi thông tin về tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/4/2019 tại trƣớc quán Karaoke Ánh Sao Đêm, thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Quang P cất giấu 4,5697 gam ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong hộc đựng nƣớc của cánh cửa phụ phía trƣớc bên phải xe ô tô hiệu Mazda CX5, biển số 61A-544.36 của Nguyễn Trọng K thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện.
Kết luận giám định xác định số ma túy thu giữ của bị cáo P có trọng lƣợng 0,1977 gam (M1); 0,8238 gam (M2); 3,5482 gam (M3) loại Methamphetamine, tổng trọng lƣợng 4,5697 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thƣờng của con ngƣời. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ngƣời sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
- Đối với xe ô tô biển số 61A-544.36 hiệu Mazda CX5, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Trọng K, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Nguyễn Trọng K là phù hợp.
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một bì thƣ niêm phong ký hiệu 314/MT-PC09 cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với đối tƣợng đã bán ma túy cho Lê Quang P, Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Trọng K, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
- Đối với đối tƣợng đã bán ma túy cho K tại ngã tƣ Ga, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã gửi thông tin về tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Lê Quang P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại chƣa trong một bì thƣ niêm phong ký hiệu 314/MT-PC09 và 01 bộ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu xanh có gắn một ống hút nhựa và một nỏ thủy tinh.
(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/9/2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí:
Bị cáo Lê Quang P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƢƠNG Vào hồi giờ phút ngày 15 tháng 10 năm 2019; Tại phòng nghị án tòa án nhân dân thị xã Thuận An. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em. - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tâm; Ông Trƣơng Văn Sinh. tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Lê Quang P. Căn cứ vào các Điều 299, 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên thu thập; ngƣời Nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp; hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất. 2. Về điều luật áp dụng: Bộ luật Hình sự; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất. 3. Về trách nhiệm hình sự: thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2019. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất. 314/MT-PC09 và 01 bộ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu xanh có gắn một ống 11/9/2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng). Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất. 5. Các vấn đề khác: - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ. - Về quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 254/2019/HSST ngày 01 Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC 1. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Điều tra Công an thị xã Thuận An, - Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 47 của - Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số - Về tội danh: Bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quang P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, 4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một bì thƣ niêm phong ký hiệu hút nhựa và một nỏ thủy tinh (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày Biên bản nghị án đã đƣợc đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử Thiệu Văn Kết Em |