- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tú E về việc ly hôn với anh Lê T.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249/2019/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 9 năm 2019 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
2. Bà Nguyễn Kim Lên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 575/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú E – sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau
Bị đơn: Anh Lê T – sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau
(Chị Tú Em, anh T xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và biên bản hòa giải tại tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú E trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức hôn lễ và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hòa hợp, chị và anh T hiện đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng đã không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị xác định, thời gian chung sống chị và anh T có một người con chung, cháu Lê Thanh N, sinh ngày 03/7/2017, cháu hiện đang sống cùng với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Chị xác định, tự thõa thuận với anh T không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có.
Tại biên bản hòa giải tại tòa, bị đơn anh Lê T trình bày:
Anh thống nhất với nội dung trình bày của chị Tú Em về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung, cụ thể:
Về hôn nhân: Anh và chị Tú Em chung sống với nhau từ năm 2016, hôn nhân do anh tự nguyện lựa chọn, có đăng ký kết hôn theo quy định, anh nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với chị Tú Em.
Về con chung: Anh xác định, thời gian chung sống anh chị có một người con chung, cháu Lê Thanh N, sinh ngày 03/7/2017, anh xác định cháu hiện đang sống cùng với chị Tú E. Anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N.
Về tài sản chung: Anh xác định, tự thõa thuận với chị Tú E không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Lê T có nơi trú tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú E khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Lê T, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Tú Em là người khởi kiện, anh T là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị Tú Em là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Tú E và anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tú E và anh T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/8/2016 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Tú E và anh T được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn, nếu các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, anh T đồng ý ly hôn với chị Tú E, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tú E được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Tú E và anh T có một người con chung là cháu Lê Thanh N, sinh ngày 03/7/2017, các bên đều xác định hiện cháu N đang sống với chị Tú E, chi yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Do cháu N còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi theo quy định pháp luật, hiện cháu đang sống với chị Tú E, cháu N có giới tính nữ nên cần tiếp tục giao cháu N cho Tú E tiếp tục chăm sóc là đúng quy định pháp luật và phùy hợp với sự phát triển ổn định vốn có của cháu cũng như đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm lý của cháu. Chị Tú E xác định chị có đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N cho chị Tú E trực tiếp nuôi dưỡng.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng, do đó anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thanh N với số tiền 750.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Ngân đủ 18 tuổi là có cơ sở. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 30/9/2019.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tú E và anh T đều xác định tài sản chung tự thõa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Tú Em phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tú E về việc ly hôn với anh Lê T.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú E được ly hôn với anh Lê T.
2. Về con chung: Giao Lê Thanh N, sinh ngày 03/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Tú E trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Lê T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thanh N, sinh ngày 03/7/2017 với số tiền 750.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 30/9/2019.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tú E phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002586 ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, chị Nguyễn Thị Tú E không phải nộp tiếp. Anh Lê T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng NV-KT và THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện TVT; - Chi cục THADS huyện TVT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Hợp |