vanban.org

Bản án 249/2019/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp thừa kế tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt"
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh Thừa kế qui định
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2019/DS-PT
Ngày: 25-11-2019
“V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản
yêu cầu hủy quyết định cá biệt”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Tự

Các Thẩm phán

Ông Nguyễn Tấn Long

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2019/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2019/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1574/2019/QĐ-PT ngày 12 tháng 11 năm 2019; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bạch Y, sinh năm 1953, cư trú tại: số 101/6 đường Ng, phường Z, quận Z1, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn:

- Ông Trần Đức H, sinh năm 1957, cư trú tại: số 107 đường P, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970, cư trú tại: số 111 đường P, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Đức H: Ông Huỳnh Ngọc A, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1956, cư trú tại: Đội 4, thôn N1, xã N2, huyện T1, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Thanh T: Ông Trần Đức H (Giấy ủy quyền ngày 10/4/2019)

- Bà Trần Thị Thu D, sinh năm 1960, cư trú tại: số 466 đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bà Đặng Thị M, sinh năm 1965;

- Anh Trần Bảo L1, sinh năm 1989;

- Chị Trần Bảo Ng, sinh năm 1987;

- Chị Nguyễn Lê Ngọc H, sinh năm 1992;

Cùng cư trú tại: số 107 đường P, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Chị Trần Thị Thu H1, sinh năm 1990;

- Chị Trần Thị Thu C, sinh năm 1993;

Cùng cư trú tại: số 111 đường P, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Cụ Phạm Thị H2, sinh năm 1930, cư trú tại: 67/6 đường Ng1, phường L3, thành phố Q1, tỉnh Bình Định.

- Bà Trần Thị X, sinh năm 1963, cư trú tại: Hẻm 2 đường T2, tổ 6B, khu vực I, phường Q2, thành phố Q1, tỉnh Bình Định.

- Ông Trần Đức H3, sinh năm 1968, cư trú tại: 67/6 đường Ng1, phường L3, thành phố Q1, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ Phạm Thị H2, bà Trần Thị X, ông Trần Đức H3: Ông Trần Đức H (Giấy ủy quyền ngày 29/3/2019)

- Uỷ ban nhân dân thành phố Q, địa chỉ: số 48 đường H4, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh K, chức vụ: Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Q (Giấy ủy quyền ngày 04/10/2019)

4. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Bạch Y (nguyên đơn); ông Trần Đức H, bà Nguyễn Thị C (bị đơn); bà Trần Thị Thanh T, bà Trần Thị Thu D, bà Phạm Thị H2, bà Trần Thị X, ông Trần Đức H3 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 13-01-2017, các Đơn khởi kiện bổ sung ngày 24-02-2017, 10-4-2017

, nguyên đơn bà Trần Thị Bạch Y trình bày:

Cha mẹ bà là các cụ Trần T3 (chết năm 1988), Nguyễn Thị Nh (chết năm 1997) có 05 người con gồm bà (Trần Thị Bạch Y) và các ông bà Trần Thị Thanh T, Trần Đức H, Trần Thị Thu D, Trần Đức H5 (chết năm 2007, có vợ là bà Nguyễn Thị C và 02 con là Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C). Ngoài ra, cụ T3 có con chung với bà Phạm Thị H2 gồm các ông, bà Trần Thị X, Trần Đức H3, Trần Đức Th1 (sinh năm 1978, chết năm 2012, không có vợ con).

Thửa đất số 127, diện tích 381,3m2, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là thửa 127), do ông Trần Đức H và bà Đặng Thị M đang quản lý, sử dụng và thửa đất số 150, diện tích 128,2m2, thuộc tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là thửa 150) và ngôi nhà trên đất do bà Nguyễn Thị C và 02 con là Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C (vợ và các con của ông Trần Đức H5) quản lý, sử dụng có nguồn gốc từ thửa đất số 106 và một phần của thửa 107 tờ bản đồ số 05, đo vẽ năm 1983 của ông bà để lại cho cụ T3, cụ Nh. Theo sổ đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) thửa đất số 106, 107 tờ bản đồ số 05, diện tích 1035m2, loại ruộng đất T do cụ Nguyễn Thị Nh đứng tên kê khai đăng ký, trước đây đã được Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H, ông H5 nhưng năm 2010 đã bị thu hồi.

Cha mẹ chết đều không để lại di chúc, tính đến thời điểm hiện nay vẫn chưa hết thời hiệu khởi kiện. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ T3, cụ Nh để lại gồm các thửa đất số 127 và 150 nêu trên, cụ thể như sau:

- Chia đều phần di sản của cụ T3 (1/2 diện tích các thửa đất nêu trên) cho 09 (chín) người thừa kế của cụ T3 gồm các ông bà Nguyễn Thị Nh, Trần Thị Thanh T, Trần Đức H, Trần Thị Thu D, Trần Đức H5 (chết năm 2007, có vợ là bà Nguyễn Thị C, các con là chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C), bà Trần Thị X, ông Trần Đức H3, ông Trần Đức Th1 (chết không có vợ con, có người thừa kế mẹ là bà Phạm Thị H2) và bà (Trần Thị Bạch Y).

- Chia đều phần di sản của cụ Nh (1/2 diện tích các thửa đất nêu trên và phần diện tích đất cụ Nh được hưởng di sản của cụ T3) cho 05 (năm) người thừa kế của cụ Nh gồm Trần Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Đức H, Trần Thị Thu D, Trần Đức H5 (chết năm 2007, có vợ là bà Nguyễn Thị C, các con là chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C). Bà rút yêu cầu khởi kiện đối với ngôi nhà trên thửa 150 (số 111 đường P, phường N, thành phố Q), không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được nhận giá trị phần tài sản được hưởng, không yêu cầu nhận hiện vật.

Theo bà thì “Giấy thuận giao quyền xử dụng đất vườn” năm 1994 là không đúng thực tế và quy định của pháp luật, vì ông H giả chữ ký của bà và bà T; cụ Nh cũng không có quyền định đoạt phần tài sản cụ T3 trong khi không có sự đồng ý của các con nên không có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho ông H và ông H5.

Trước đây, anh chị em trong gia đình có ý kiến thỏa thuận vào ngày 16- 11-2007 tại Ủy ban nhân dân phường N đối vởi tài sản cha mẹ để lại, tuy nhiên ông H là người thay đổi sự thỏa thuận đó, cụ thể là ông H vẫn được nhận tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại phường Ch và đứng tên đối với lô đất tái định cư nên việc thỏa thuận của các anh chị em không thực hiện được, không còn hiệu lực; hơn nữa việc thỏa thuận của các ông bà không có sự tham gia của các ông bà Phạm Thị H2, Trần Thị X, Trần Đức H3 nên không đúng pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Đức H trình bày:

Ông đồng ý với nội dung về quan hệ hôn nhân, huyết thống và những người thừa kế của cụ T3, cụ Nh và thời điểm cụ T3, cụ Nh chết như bà Y đã trình bày.

Thửa đất số 127, 150 có nguồn gốc là đất lưu hạ của tổ tiên để lại, không phải của ông, bà hay cha mẹ của ông tạo lập.

Ngày 20-7-1994, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Nh lập “Giấy thuận giao quyền xử dụng đất vườn”, theo đó nội dung trong giấy thuận giao thể hiện ý chí của cụ Nh cho ông, ông H5 nhà đất, tại thời điểm đó pháp luật không đòi hỏi phải có chữ ký của các con nên dù chữ ký của bà Y là do ông ký thay nên Giấy thuận giao hợp pháp. Hơn nữa, các anh chị em cũng đã tự nguyện thỏa thuận phân chia tài sản của cha mẹ tại UBND phường N ngày 16-11-2007, đã được UBND phường xác nhận nên hoàn toàn hợp pháp.

Từ những lập luận nêu trên, ông cho rằng nhà đất nêu trên không còn là di sản của cha mẹ chết để lại mà đây là tài sản đã được chuyển giao hợp pháp cho ông (điều này cũng phù hợp với nội dung công văn trả lời của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi) nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Y.

Trong trường hợp phải chia thừa kế theo yêu cầu của bà nhận thửa 127 để sử dụng và thờ cúng; đối với thửa 150 thì ông được chia cho bà Nguyễn Thị C.

Ông yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 32/QĐ-UB ngày 11-5-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00876/QSDĐ/630/QĐUB được Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Ngãi (nay là thành phố Q) cấp ngày 17-8-2004 cho hộ ông Trần Đức H đối với thửa đất số 127.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà đồng ý với phần trình bày của bà Y về quan hệ hôn nhân, huyết thống những người thừa kế của cụ T3, cụ Nh và thời điểm cụ T3, cụ Nh chết như bà Y đã trình bày.

Bà thống nhất với ý kiến, lập luận của ông H về nội dung vụ án. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Y.

Trong trường hợp phải chia thừa kế theo yêu cầu của bà Y thì đối với thửa 127 bà giao phần được chia cho ông H; đối với thửa 150 thì bà nhận phần được hưởng theo quy định của pháp luật.

Bà yêu cầu hủy Quyết định số 33/QĐ-UB ngày 11-5-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00625/QSDĐ/2099/QĐ-UB được Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Ngãi (nay là thành phố Q) cấp ngày 19-12-2003 cho hộ ông Trần Đức H5 đối với thửa đất số 150.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, các bà Đặng Thị M, Trần Thị Thu D, chị Trần Bảo Ng trình bày:

Đồng ý với nội dung về quan hệ hôn nhân, huyết thống và những ngườỉ thừa kế của cụ T3, cụ Nh và thời điểm cụ T3, cụ Nh chết như bà Y trình bày.

Thống nhất với ý kiến, lập luận của ông H, bà C, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Y.

Trong trường hợp phải chia thừa kế theo yêu cầu của bà Y thì đối với thửa 127, bà D giao phần được chia cho ông H; đối với thửa 150, bà D giao phần được chia cho bà Nguyễn Thị C.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2019/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

Căn cứ vào Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 195 634, 635, 637, 638, 677, 678, 679, 738, 743 của Bộ luật Dân sự

Điều 623, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 3 của Luật Đất đai năm 1993, Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 92, 147, 150, 157, 158, 164, 165, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 12, 27 của Nghị quyết số 326/20l6/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bạch Y về “Tranh chấp thừa kế tài sản quyền sử dụng đất”.

2. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần T3 gồm những người sau đây: Nguyễn Thị Nh, Phạm Thị H2, Trần Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Đức H, Trần Thị Thu D, Trần Đức H5 (ông H5 chết 2007 nên bà Nguyễn Thị C và các con Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C được thừa kế), Trần Thị X, Trần Đức H3, Trần Đức Th1 (ông Th1 chết 2007 nên cụ Phạm Thị H2 được thừa kế).

Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị Nh gồm những người sau đây: Trần Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Đức H, Trần Thị Thu D, Trần Đức H5 (ông H5 chết 2007 nên bà Nguyễn Thị C và các con Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C được thừa kế).

3. Xác định số tiền 3.830.316.612 đồng (ba tỷ tám trăm ba mươi triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm mười hai đồng) (là giá trị 1/3 thửa đất 127, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) và số tiền 1.287.822.160 đồng (một tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu tám trăm hai mươi hai nghìn một trăm sáu mươi đồng) (là giá trị 1/3 thửa đất 150, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là di sản của cụ Trần T3 để lại.

Xác định số tiền 364.792.058 đồng (ba trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn không trăm năm mươi tám đồng) (là phần di sản cụ Nguyễn Thị Nh được hưởng của cụ Trần T3 từ thửa 127, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) và số tiền 122.649.730 đồng (một trăm hai mươi hai triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm ba mươi đồng) (là phần di sản cụ Nguyễn Thị Nh được hưởng của cụ Trần T3 từ thửa 150, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là di sản của cụ Nguyễn Thị Nh để lại.

4. Chia cụ Phạm Thị H2 được hưởng phần di sản trị giá 974.883.576 đồng (chín trăm bảy mươi bốn triệu tám trăm tám mươi ba nghìn năm trăm bảy mươi sáu đồng) (trong đó thửa 127 được chia 729.584.116 đồng, thửa 150 được chia 245.299.460 đồng);

Chia bà Trần Thị Bạch Y được hưởng phần di sản trị giá 576.067.567 đồng (năm trăm bảy mươi sáu triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng) (trong đó thửa 127 được chia 431.117.887 đồng, thửa 150 được chia 144.949.681 đồng);

Chia bà Trần Thị Thanh T được hưởng phần di sản trị giá 576.067.567 đồng (năm trăm bảy mươi sáu triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng) (trong đó thửa 127 được chia 431.117.887 đồng, thửa 150 được chia 144.949.681 đồng);

Chia bà Trần Thị Thu D được hưởng phần di sản trị giá 576.067.567 đồng (năm trăm bảy mươi sáu triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng) (trong đó thửa 127 được chia 431.117.887 đồng, thửa 150 được chia 144.949.681 đồng);

Chia ông Trần Đức H được hưởng phần di sản trị giá 791.626.511 đồng (bảy trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm mười một đồng) (trong đó thửa 127 được chia 646.676.830 đồng, thửa 150 được chia 144.949.681 đồng);

Chia bà Nguyễn Thị C, các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C được hưởng phần di sản trị giá 648.542.408 đồng (sáu trăm bốn mươi tám triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng) (trong đó thửa 127 được chia 431.117.887 đồng, thửa 150 được chia 217.424.520 đồng);

Chia bà Trần Thị X được hưởng phần di sản trị giá 487.441.788 đồng (bốn trăm tám mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi bảy đồng) (trong đó thửa 127 được chia 364.792.058 đồng, thửa 150 được chia 122.649.730 đồng);

Chia ông Trần Đức H3 được hưởng phần di sản trị giá 487.441.788 đồng (bốn trăm tám mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi bảy đồng) (trong đó thửa 127 được chia 364.792.058 đồng, thửa 150 được chia 122.649.730 đồng);

5. Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Phạm Thị H2, các bà Trần Thị Thu D, bà Nguyễn Thị C và các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C, bà Trần Thị X, ông Trần Đức H3 về việc giao cho ông Trần Đức H được sở hữu phần di sản của mình được chia ở thửa 127, tờ bản đồ số 09, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Phạm Thị H2, các bà Trần Thị Thu D, bà Trần Thị X, các ông Trần Đức H, Trần Đức H3 về việc giao cho bà Nguyễn Thị C và các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C được sở hữu phần di sản của mình được chia ở thửa 150, tờ bản đồ số 09, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Giao ông Trần Đức H được quyền sử dụng thửa 127, tờ bản đồ số 09, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Ông Trần Đức H có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị Bạch Y là 431.117.887 đồng (bốn trăm ba mươi mốt triệu một mười bảy nghìn tám trăm tám mươi bảy đồng), thanh toán cho bà Trần Thị Thanh T là 431.117.887 đồng (bốn trăm ba mươi mốt triệu một trăm mười bảy nghìn tám trăm tám mươi bảy đồng).

Giao bà Nguyễn Thị C, các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C được quyền sử dụng thửa 150, tờ bản đồ số 09, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; bà Nguyễn Thị C, các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị Bạch Y 144.949.681 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng) (mỗi người thanh toán 48.316.560 đồng (bốn mươi tám triệu ba trăm mười sáu nghìn năm trăm sáu mươi đồng), thanh toán cho bà Trần Thị Thanh T 144.949.681 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng) (mỗi người thanh toán 48.316.560 đồng (bốn mươi tám triệu ba trăm mười sáu nghìn năm trăm sáu mươi đồng).

Ông Trần Đức H, bà Nguyễn Thị C và chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C có quyền và nghĩa vụ đến các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

7. Tạm giao ông Trần Đức H quản lý số tiền 3.830.316.612 đồng (ba tỷ tám trăm ba mươi triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm mười hai đồng) (là giá trị 1/3 thửa đất 127, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi), bà Nguyễn Thị C và các chị Trần Thị Thu H1, Trần Thị Thu C quản lý số tiền 1.287.822.160 đồng (một tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu tám trăm hai mươi hai nghìn một trăm sáu mươi đồng) (là giá trị 1/3 thửa đất 150, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là phần tài sản của cụ Phạm Thị H2 trong khối tài sản chung của cụ Trần T3, cụ Nguyễn Thị Nh, cụ Phạm Thị H2.

8. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Trần Đức H về “Yêu cầu hủy quyết định cá biệt” đối với Quyết định số 32/QĐ-UB ngày 11-5-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00876/QSDĐ/630/QĐUB được Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Ngãi Cấp ngày 17-8-2004 cho hộ ông Trần Đức H đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Không châp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị C về “Yêu cầu hủy quyết định cá biệt” đối với Quyết định số 33/QĐ-UB ngày 11-5-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00625/QSDĐ/2099/QĐ-UB được Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Ngãi cấp ngày 19-12-2003 cho hộ ông Trần Đức H5 đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

9. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bạch Y về việc chia thừa kế ngôi nhà gắn liền với thửa đất 150, tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của cụ Phạm Thị H2, bà Trần Thị X, ông Trần Đức H3 về việc chia thừa kế di sản của cụ Trần T3 ở thửa 127 và 150, cùng tờ bản đồ số 9, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; án phí dân sự sơ thẩm; quyền, nghĩa vụ thi hành án; quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn - bà Trần Thị Bạch Y

đơn kháng cáo

đơn kháng cáo

đơn kháng cáo

kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên

Tòa

:

B

T3

H2

H2

không

không

13/01/1960

H2

T3

không

H2

T3

Hơn

T3

H2

không

--

Tòa án nhân dân

.

B

Nh không

quyền

-

thành phố

-8-2009, ông H

- -

y không

B

ông H, ông H5

không

-

ông H Ngân hàng

-

ông H5

C

ông H5

C

C

-

ông H không

.

Ông H

Trần Thị Thanh T

122m2

80,8m2

, phúc thẩm

ông H bồi thường thiệt hại

pháp luật.

Trần Thị Bạch Y Tòa án nhân dân

Bị đơn ông Trần Đức H

đơn kháng cáo

đơn kháng cáo

đơn kháng cáo

Nguyễn Thị C

đơn kháng cáo n

đơn kháng cáo

08/4/2019.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Trần Thị Thanh T

đơn kháng cáo

Trần Thị Thu D

đơn kháng cáo

đơn kháng cáo

10/4/2019.

Phạm Thị H2

đơn kháng cáo

.

Trần Thị X

đơn kháng cáo

.

Ông Trần Đức H3

đơn kháng cáo

.

kháng cáo

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu

sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng

không chấp nhận yêu cầu

chia

của nguyên đơn

Y.

A

Giấy thuận giao quyền sử dụng đất vườn

ngày 20-7-1994

16/11/2007. Ông Trần Đức H không

Ông H hôn nhân,

Hôn n

G

H2

T3

H2

X, ông H3

k

chia

không

kháng cáo

Trần Đức H

, không

k

chia

T

cụ T3, cụ Nh 07/11/2007, ông H

2

2 Tr n Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Thị Thu D, Nguyễn Thị C

Ủy ban nhân dân

Trần Đức H

Tr n Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Thị Thu D, Nguyễn Thị C

Trần Đức H

Nguyễn Thị C

, giao

2

1.664m2

cho

Tr n Thị Bạch Y, Trần Thị Thanh T, Trần Thị Thu D, Nguyễn Thị C H2

X, ông H3

cụ T3, cụ Nh

. B

k

chia

Y không

kháng cáo

bị đơn

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

k

chia

nguyên đơn.

[1] Cụ T3 và cụ Nh có 05 người con chung; sau đó vào năm 1960, cụ T3 chung sống với cụ H2 có 03 người con chung. Cụ T3 và cụ Nh, cụ T3 và cụ H2 chung sống đều trước thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 có hiệu lực áp dụng thống nhất trong cả nước (ngày 25-3-1977) nên không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì cụ T3 và cụ Nh, cụ T3 và cụ H2 chung sống với nhau trước ngày 03-01-1987 nên đều là quan hệ vợ chồng

. Theo điểm a mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số qui định của Pháp lệnh Thừa kế qui định: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-1-1960 - ngày công bố Luật hôn nhân gia đình 1959 đối với Miền Bắc, trước ngày 25-3-1977 – ngày công bố danh mục văn bản pháp luật áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với Miền Nam………mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng…”. Do đó,

những người thừa kế của cụ T3 gồm: cụ Nh, cụ H2, các ông, bà Y, T, H, D, H5 (ông H5 chết năm 2007 nên bà C và các con H1, C được thừa kế), X, H3, Th1 (ông Th1 chết nên cụ H2 được thừa kế),

[2]

vợ chồng

T3

H2 không

pháp luật

Việt Nam

ôn nhân

. Kháng cáo Tr n Thị Bạch Y

H2 không

T3 nên không

không

T3 không

[3]

T3

1

1. Cụ H1 chết vào khoảng năm 1977-1978, cụ Ch1 chết năm 1973.

đang hai mối quan hệ hôn nhân giữa cụ T3 và cụ Nh, cụ T3 và cụ H2. Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 1959 (có hiệu lực thi hành tại miền Nam ngày 25-3-1977), vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới, nên các tài sản

thửa

127 và 150 là tài sản chung của cụ T3, cụ Nh, cụ H2, mỗi người có quyền đối với 1/3 tài sản.

H2

quyền đối với 1/3

cụ Nh chỉ có quyền định đoạt phần tài sả

1/3

các thửa đất nêu trên

[4]

, cụ T3 chết năm 1988, cụ Nh chết năm 1997, ngày 13-01-2017, bà Y khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ T3, cụ Nh

không

ông H

ông H5

sau khi cụ T3, cụ Nh

cụ T3, cụ Nh

[5]

“Giấy thuận giao quyền xử dụng đất vườn” ngày 20-7-1994,

thửa

127 và 150 tài sản của cụ T3, cụ Nh và cụ H2. Việc cụ Nh lập “Giấy thuận giao quyền xử dụng đất vườn” ngày 20-7-1994 định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất thửa

127 và 150 mà không có sự đồng ý của cụ H2 và những người thừa kế của cụ T3 gồm cụ H2, bà Y, ông H3 và bà X là không đúng pháp luật.

chia

theo pháp luật, không xem “Giấy thuận giao quyền xử dụng đất vườn” ngày 20-7-1994

, như kháng cáo

Tr n Thị Bạch Y

.

[6]

iên bản ngày 16-11-2007

chia

,

các bên đã không thực hiện

theo

thỏa thuận, bà Y khiếu nại biên bản ngày 16-11-2007, ông H nhận tiền bồi thường do thu hồi đất nông nghiệp và có tên trong quyết định giao đất tái định cư khi

thu hồi đất nông nghiệp.

H2

X, ông H3

16-11-2007 nhưng

không

biên bản ngày 16-11-2007

; nên không

n kháng cáo

ông H

C

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

quyền sử dụng đất

thửa

127 và 150

phân chia

trên.

[7] T

sơ

quyết định tính giá trị 1/3 tài sản của cụ H2 trong các thửa 127 và 150 thành tiền, tạm giao cho ông H, bà C và các con quản lý. Cụ H2, ông H, bà C và các con có quyền thỏa thuận về phần tài sản này, nếu có tranh chấp sẽ được giải qu

Trần Thị Thanh T

thi hành án dân sự.

[8]

kháng cáo

Y

ông H

Trần Thị Thanh T 122,3m2

,8m2

Y

không

quyền

[9]

không

sư

A

; không

kháng cáo

Tr n Thị Bạch Y

H

C

Trần Thị Thu D

H2,

Trần Thị Thanh T, bà

X, ông

H3

[10]

đương sự không

.

án phí dân sự

th m.

1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

kháng cáo

nguyên đơn Tr n Thị Bạch Y;

kháng cáo

c H

C;

kháng cáo

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu D

H2

Trần Thị Thanh T, Tr

X

H3;

dân sự

số 12/2019/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

C phải chịu

t

là 300.000đ, đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001645 ngày 26/4/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

B Trần Thị Thu D phải chịu

t

là 300.000đ, đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001646 ngày 26/4/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

Bà Tr

X phải chịu

t

là 300.000đ, đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001647 ngày 26/4/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

Ô

H3 phải chịu

t

là 300.000đ, đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001648 ngày 26/4/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

Hoàn trả bà Trần Thị Thanh T 300.000đ

, đã nộp tại biên lai số AA/2018/0001644 ngày 26/4/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

Cỡ chữ