vanban.org

Bản án 249/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

4 Điều 147; Các Điều 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ Em với anh Võ Văn Pha"
  • Tòa quyết gì? 4 Điều 147; Các Điều 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2018
V/v Ly hôn giữa chị M E và anh
P.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Văn Cẩu

Bà Phạm Thị Kim Thảo

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng

4 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số

142/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 106/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 giữa các

đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị N T M E, sinh ngày 11-4-1988 (có mặt)

ĐKHKTT: Tổ 6, ấp V Q, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.

Tạm trú: Số nhà 121, Tổ 5, ấp K B 1, xã K A, huyện C M, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Anh V V P, sinh ngày 26-10-1986 (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 6, ấp V Q, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 22-3-2018, quá trình giải

quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị N T M E trình bày:

+Về hôn nhân: Chị và anh V V P kết hôn vào năm 2008, hôn nhân do quen

biết, tự nguyện sống chung như vợ chồng. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 65 ngày 15-6-2015. Sau khi cưới vợ chồng sống chung gia đình bên chồng, sau đó vợ chồng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, thuê nhà trọ sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, anh P sinh ra ăn chơi, cờ bạc gây nợ nần, không quan tâm chăm lo gia đình, hay kiếm chuyện mắng chửi, nhục mạ, thậm chí đánh đập. Từ tháng 7/2016, chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh P, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn với anh V V P.

+Về con chung: Có 01 con chung tên V H K, sinh ngày 09-5-2009, hiện chị

đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh V V P cấp dưỡng nuôi

con.

+Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại Biên bản hòa giải ngày 21-5-2018 và tại phiên tòa, bị đơn anh V V P

trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị M E về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, thời gian chung sống, thời gian sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn.

+Về hôn nhân: Anh và Chị N T M E kết hôn vào năm 2008, hôn nhân do

quen biết, tự nguyện sống chung như vợ chồng. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 65 ngày 15-6-2015. Sau khi cưới vợ chồng sống chung gia đình bên chồng, sau đó vợ chồng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, thuê nhà trọ sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, anh có sinh ra ăn chơi, cờ bạc gây nợ nần, không quan tâm chăm lo gia đình, hay kiếm chuyện mắng chửi, nhục mạ, 2 lần đánh vợ. Từ tháng 7/2016, chị M E bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị M E, anh nhận thấy còn thương vợ, thương con, anh không đồng ý ly hôn. Yêu cầu Tòa án hòa giải đoàn tụ.

+Về con chung: Có 01 con chung tên V H K, sinh ngày 09-5-2009, hiện chị

M E đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh đồng ý để chị M E được tiếp tục nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng

2.000.000đ, anh đồng ý để chị N T M E đại diện nhận.

+Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21-5-2018, cháu V H K sinh ngày 09-5-2009

trình bày: Cháu hiện đang sống với mẹ tên N T M E, cháu học lớp 3 trường tiểu học A K A, xã K A, huyện C M, tỉnh An Giang. Nếu cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố

tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hôn nhân: Chị N T M E và anh V V P kết hôn và đăng ký kết hôn tại

UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang ngày 15-6-2015 theo quy định tại

Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và

được pháp luật bảo vệ. Chị M E có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án

tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa chị M E và anh P; anh P không

đồng ý ly hôn do còn thương vợ thương con. Từ khi sống ly thân cũng như sau

khi Tòa án tổ chức hòa giải cả hai đều bỏ mặc không tìm cách hàn gắn lại tình

cảm. Điều này cho thấy đời sống hôn nhân thật sự trầm trọng, mục đích hôn

nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không còn. Đối chiếu với quy định của

pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội

đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chị M E được ly

hôn với anh P là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về con chung: Chị N T M E và anh V V P có 01 con chung. Chị M E,

anh P và cháu K cùng thống nhất là chị M E được tiếp tục nuôi dưỡng con

chung. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù

hợp.

Chị N T M E và các thành viên trong gia đình chị M E không được cản trở

anh V V P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy

định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh V V P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị M E có quyền

yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh P theo quy định tại khoản

3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N T M E không yêu cầu anh V V P cấp

dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N T M E và anh V V P thống nhất

trình bày không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội

khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Toà án, chị N T M E phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003412 ngày 05-4-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn chị N T M E; bị đơn anh V V P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21-8-2018).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản

4 Điều 147; Các Điều 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: Chị N T M E được ly hôn với anh V V P.

[2] Về con chung: Chị N T M E được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên V

H K, sinh ngày 09-5-2009.

Chị N T M E và các thành viên trong gia đình chị M E không được cản trở

anh V V P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh V V P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị M E có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh P theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Chị N T M E phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ

thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003412 ngày 05-4-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị N T M E; bị đơn anh V V P có

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21-8-2018).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ