vanban.org

Bản án 249/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyờn bố: Bị cáo Lê Nguyên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Nghị quyết 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyờn bố: Bị cáo Lê Nguyên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HD
TỈNH HD

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2017/HSST.
Ngày: 26/12/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD, TỈNH HD

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Hoan- Giáo viên nghỉ hưu.

2. Ông Nguyễn Minh Tân - Cỏn bộ nghỉ hưu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư

ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD,

tỉnh HD mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số

153/2017/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Nguyên L - Sinh năm: 1972.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 3, Phường TB, thành phố HD.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/10. Con ông Lê

Nguyên S - Đã chết và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1930. Gia đình có 9 anh

chị em, bị cáo là thứ chín.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 129 ngày 06/9/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh HD xử phạt

12 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Bản án số 172/HSST ngày 22/8/1998 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân

dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp sử dụng

trái phép chất ma túy.

- Bản án số 06/2008/HSST ngày 16/01/2008 của Tòa án nhân dân thành

phố HD xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 468.000

đồng). Nộp án phí 23/7/2009.

- Bản án Giám đốc thẩm số 06/2009/GĐT-HS ngày 27/8/2009 của Tòa

án nhân dân tỉnh: hủy Bản án sơ thẩm số 06/2008/HSST ngày 16/01/2008 của

Tòa án nhân dân thành phố HD để xét xử lại.

- Bản án số 202/2009/HSST ngày 28/9/2009 của Tòa án nhân dân TP

HD xử phạt 10 tháng 11 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Chấp hành xong bản án ngày 18/9/2013.

- Quyết định số 1349/QĐ-CT ngày 19/12/2005 của Chủ tịch ủy ban

nhân dân TP HD đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh HD thời hạn 24 tháng.

- Quyết định số 259 ngày 27/8/2008 của Công an TP HD xử phạt vi

phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền: 200.000 đồng.

- Quyết định số 1651/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Chủ tịch UBND

tỉnh HD về việc áp dụng cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2017, chuyển tạm

giam từ ngày 14/9/2017 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh HD.

Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Nguyên L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố

về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09h15’ ngày 12/9/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 53 Tuy Hòa, phường Trần Phú, thành phố HD, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP HD bắt quả tang Lê Nguyên L đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải đang mặc 10 gói giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (0,5x1) cm/gói bên trong các gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, L khai nhận là Heroin cất giấu để sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Nguyễn Xuân H, ở số 5/5/61 Trần Phú, phường Trần Phú, thành phố HD và anh Lê Văn S, ở Khu 10, phường Bình Hàn, thành phố HD.

Quá trình điều tra Lê Nguyên L khai nhận: Do nghiện chất ma túy (loại

Heroin) nên khoảng 08h50’ ngày 12/9/2017, L đi bộ từ nhà đến khu vực cổng chợ Phú Yên, thành phố HD mua được 10 gói Heroin với số tiền 700.000 đồng của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), cất giấu vào trong người rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 09h15’ cùng ngày, khi L đi đến trước cửa số nhà 53 Tuy Hòa, phường Trần Phú, thành phố HD thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố HD phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải L đang mặc 10 gói giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (0,5x1)cm/gói bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Xuân H và anh Lê Văn S.

Tại Kết luận giám định số 361 ngày 13/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh HD: Chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Lê Nguyên L gửi đến giám định có tổng trọng lượng là: 0,413, là loại Heroin.

Heroin nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP

ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.

Tại bản cáo trạng số 252/VKS - HS ngày 30/11/2017, Viện kiểm sát

nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo Lê Nguyên L về tội “ Tàng trữ trái phép

chất ma túy ” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

Tại phiên toà bị cáo Lê Nguyên L đã khai nhận hành vi phạm tội của

mình, bản thân bị cáo nghiện ma túy nhiều năm nay, mua ma tỳy để sử dụng

và xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo về tội danh

và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, đề nghị HĐXX xem xét giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà, giữ nguyên quyết

định truy tố đồng thời có quan điểm đề nghị như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Nghị

quyết 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 BLHS 2015

Xử phạt bị cáo Lê Nguyên L từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tính từ

ngày 12/9/2017.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự;

điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu huỷ 0,343 gam mẫu là Heroin và vỏ bao gói hoàn lại

sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 361/KLGĐ-PC54.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí

số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016,

buộc bị cáo Lê Nguyên L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn

cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện

các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt

giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết

luận giám định và phù hợp với các tài liệu điều tra khác đã được thu thập

trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09h15’ ngày 12/9/2017, tại

trước cửa số nhà 53 Tuy Hòa, phường Trần Phú, thành phố HD, Lê Nguyên

L đang cất giấu trái phép trong người 0,413 gam Heroin để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP HD phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo Lê Nguyên L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận

thức rừ Heroin là chất ma túy, thuộc chất Nhà nước cấm lưu hành nhưng vì bản thân nghiện ma túy nên vẫn cố ý mua và cất giữ trái phép để sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD đã quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm

đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Trong vụ án này bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách

nhiệm hình sự. Mặt khác, bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt tự từ 02 năm đến 07 năm, trong khi tội phạm tương ứng quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt tự từ 01 năm đến 05 năm và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; Theo quy định tại Nghị quyết số 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật nhưng xét tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản riêng

nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,343g Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám

định và vỏ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Lê Nguyên L Cơ quan

CSĐT Công an thành phố HD khụng làm rừ được, không có căn cứ xử lý nên không đặt ra giải quyết.

Về ỏn phớ: Bị cáo Lê Nguyên L có hành vi phạm tội nên phải chịu án

phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyờn bố: Bị cáo Lê Nguyên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46

BLHS; Nghị quyết 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249

BLHS 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyên L 18 (mười tám) tháng tự. Thời hạn tù

tính từ ngày 12/9/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41Bộ luật Hình

sự; Điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu huỷ toàn bộ số ma

tuý gửi đi giám đó hoàn lại phần mẫu vật 0,343 gam có trong bì thư niêm phong số

361/KLGĐ-PC54. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT

Công an TP. HD và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố HD ngày

05/12/2017).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ

phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án ngày 30/12/2016.

Bị cáo Lê Nguyên L phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. /.

Nơi gửi:

Cỡ chữ