vanban.org

Bản án 248/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Đánh bạc”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC sửa đổi, bổ sung…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ và đồng phạm - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
–––––––––––––––

Bản án số: 248/2026/HS-ST

Ngày: 29/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

-----------------

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Minh Long;

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 5

- Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 242/2026/TLST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2026/QĐXXST-HS, ngày 21/5/2026, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn Đ, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Thôn T, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số 15/268/56 phố N, tổ 16 cụm N, phường B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Phạm Văn Đ, sinh năm 1970 và con bà: Bùi Thị L sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01; Vợ: Vũ Thị T, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn, sinh năm 2016, con nhỏ, sinh năm 2019; Danh chỉ bản số 0010, lập ngày 28/01/2026 tại Công an phường B, thành phố Hà Nội; Tiền án: Không; tiền sự: Không: nhân thân: - Tại bản án số 01/2016/HSST, ngày 27/01/2015 của TAND huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Phạm Văn Đ 05 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2014. (Đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 19/01/2026 đến ngày 28/01/2026 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 2003; Nơi thường trú: Thôn T, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số 14/268/56/8 Phố N, tổ 16 cụm N, phường B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1977 và con bà: Mai Thị L, sinh năm 1983 (Đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01; Vợ, con: Chưa có; Danh chỉ bản số 0009, lập ngày 28/01/2026 tại Công an phường B, thành phố Hà Nội; Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 19/01/2026 đến ngày 28/01/2026 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).

*Những người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Văn D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn N, xã V, tỉnh Thanh Hóa. (Anh D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 18/1/2026, Phạm Văn Đ, điều khiển xe máy Wave màu trắng; BKS: 36F1 – 140.73 chở Phạm Văn H đi trên đường N, cụm N, phường B, thành phố Hà Nội, do cả 02 đều không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông nên bị Tổ công tác Y14 – 141 Công an thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường N (Theo kế hoạch 109/KHCAHN, ngày 05/5/2025), đã ra tín hiệu yêu cầu Đ dừng xe để kiểm tra hành chính, tại thời điểm kiểm tra cả Đ và H không xuất trình được giấy tờ tùy thân, tiếp tục kiểm tra điện thoại của Đ và H thì phát hiện trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno, có vỏ ngoài màu đen của Phạm Văn Đ trong ứng dụng Zalo có trong máy điện thoại của Đ có các tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số Lô, số Đề với Phạm Văn H. Tổ công tác đã đưa Đ và H cùng phương tiện và điện thoại để bàn giao cho Công an phường B, thành phố Hà Nội làm rõ theo quy định của pháp luật.

Vật chứng Cơ quan Công an thu giữ của Phạm Văn H: - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số Imei: 354834094916xxx, bên trong lắp sim số 385028910 điện thoại đã qua sử dụng, không rõ chất lượng; - Thu giữ của Phạm Văn Đ: - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 7Z5G 128 GB, số Imei: 869447053882xxx; - 01 chiếc xe máy Honda wave, BKS: 36F1-140.xx, số máy: HC12E, 5082126, số khung hoen rỉ không rõ. Xe đã qua sử dụng, kiểm tra trong cốp xe không có tài sản gì.

Tại Bản kết luận giám định số 2841/KL-KTHS, ngày 31/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE đeo biển kiểm soát: 36F1 – 140.xx có số khung: RLHHC1252FY369672 và số máy: HC12E – 5082126 là số nguyên thủy.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn H và Phạm Văn Đ khai nhận: H và Đ và Đặng Văn D, sinh năm: 1984, HKTT: thôn N, xã V, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: số 16, ngõ 268/56 phố N, phường B, thành phố Hà Nội là bạn cùng phòng trọ với nhau. Thông qua quảng cáo trên mạng xã hội, H biết trang Web “Xuan Win” (Không nhớ tên cụ thể) có thể đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề Online và kể cho Đ và D biết. Thấy vậy, Đ và D đã nhắn tin các số lô, đề và số tiền muốn “đánh” gửi qua ứng dụng Zalo cho H. Sau đó, Đ chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng số 104883597xxx mang tên PHAM VAN D mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; D chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng số 0968098xxx mang tên DANG VAN D mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội cho H qua số tài khoản Ngân hàng số 88666622229xxx mang tên PHAM VAN H mở tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam Sau khi nhận được tiền của Đ và D thì H sử dụng tài khoản ngân hàng nêu trên của mình để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc thông qua mã QR do trang mạng cung cấp và dùng điện thoại di động của H để mua các số lô, đề cho Đ trên trang mạng “Xuan Win”. Nếu thắng, trang mạng sẽ thanh toán tiền trúng thưởng cho H qua số tài khoản ngân hàng số 1026101xxx mang tên PHAM VAN H mở tại Ngân hàng Vietcombank. Sau đó, H sẽ chuyển khoản lại cho Đ theo số tài khoản đã nêu trên. Việc nạp tiền và rút tiền được H thực hiện luôn trong ngày. Ngày 18/01/2026, khi Đ và H đang điều khiển xe máy đi trên đường N, phường B, Hà Nội thì bị tổ công tác Y14 – 141 Công an thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện hành vi đánh bạc qua Inernet. Cơ quan Công an đã đưa H, Đ về trụ sở để làm rõ theo quy định pháp luật.

Căn cứ lời khai của Phạm Văn H và Phạm Văn Đ, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã triệu tập Đặng Văn D đến trụ sở Cơ quan Công an để làm việc.

Vật chứng thu giữ của Đặng Văn D: 01 chiếc điện thoại Oppo A32 màu xanh, số Imeil: 864204050445xxx, số Imei2: 864204050445xxx.

Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã trưng cầu giám định Kỹ thuật số điện tử tại Phòng PC09 – CATP. Hà Nội để trích xuất nội dung dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Zalo có trong 03 chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Văn H, Phạm Văn Đ và Đặng Văn D.

Căn cứ kết quả kiểm tra điện thoại; kết quả sao kê các tài khoản ngân hàng của Phạm Văn Đ, Phạm Văn H và Đặng Văn D, xác định: Từ tháng 23/12/2025 đến ngày 18/01/2026, Đ đã dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển khoản cho H 15 lần (Số tiền từ 100.000 đồng – 600.000 đồng) để đánh bạc nhưng chỉ có duy nhất ngày 06/01/2026 là trúng thưởng. Các ngày còn lại đều không trúng.

Cụ thể, ngày 06/01/2026, Đ nhắn tin cho H qua mạng Zalo, mua 02 cặp lô xiên hai là 62, 87 và 18, 32 với số tiền 100.000 đồng, hai cặp xiên 3 là 18, 32, 50 và 62, 87, 50 với số tiền 100.000 đồng. Đ đã dùng số tài khoản 0971307xxx thuộc ngân hàng Vietinbank, chuyển khoản 400.000 đồng cho H có số tài khoản 88666622229xxx thuộc ngân hàng Techcombank. So sánh số lô tương ứng với các giải của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc, mở thưởng vào 18 giờ 00 phút cùng ngày, số lô tương ứng với 02 số cuối của 27 kết quả số quay thưởng của Kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc thì Đ trúng cặp xiên hai là 18, 32 nên được trang web đánh bạc trả tiền tưởng số tiền 1.700.000 đồng và trúng cặp xiên ba 18,32,50 nên được trang web đánh bạc trả thưởng số tiền 6.500.000 đồng. Tổng số tiền Đ trúng thưởng là 8.200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền thưởng từ trang Web đánh bạc, H đã chuyển khoản lại cho Đ và được Đ trả công bằng số tiền 200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Đặng Văn D khai nhận: D làm công việc vận chuyển hàng cùng với Phạm Văn H và Phạm Văn Đ, cả 03 người ở cùng khu trọ ngõ 268/56 phố N, phường B, Hà Nội. Khoảng ngày 15/12/2025, D biết H có trạng mạng ghi số lô, số đề nên đã mua số lô, số đề của H. D mua số lô, số đề của H bằng cách nhắn tin qua mạng Zalo với H, tên Zalo là “Đặng D”, tên Zalo của H tên “Phạm Văn H” và thanh toán tiền cho H bằng chuyển khoản để H nạp tiền đánh trên trang (trang lô đề của H là gì tôi không biết). D mua số lô, số đề của H cách nhật, không phải ngày nào cũng mua. Do D lo sợ bị vợ phát hiện mua số lô, số đề của H nên D mua số lô, số đề ngày nào thì xóa luôn tin nhắn Zalo với H ngày đó, D cũng chỉ nhớ mua số lô, số đề của H khoảng 10 lần. Do đã xóa hết tin nhắn mua số lô, số đề của H nên D chỉ nhớ ngày gần nhất là 18/01/2026, D nhắn tin qua mạng Zalo với H, mua số lô xiên, bốn cặp lô xiên 2 gồm: 11/64, 11/33, 20/64, 20/33, mỗi cặp 100.000 đồng, tổng là 400.000 đồng. Khi mua số lô, D dùng số tài khoản 0968098xxx thuộc ngân hàng MB Bank chuyển khoản cho H có số tài khoản 88666622229xxx thuộc ngân hàng Techcombank và thanh toán tiền với nhau bằng tiền mặt và quét mã QR trực tiếp. Khi trúng lô, H sẽ thanh toán 100.000 đồng cặp xiên hai thành 1.700.000 đồng, tuy nhiên D không trúng cặp lô nào. Trước đây, D có nhớ trúng lô khoảng 2 đến 3 lần khi mua số lô của H, mỗi lần trúng không đến số tiền 5.000.000 đồng. D biết Đ có mua số lô của H, nhất là ngày 06/1/2026, Đ có nhắn tin zalo với D, tên zalo của Đ tên “Đồng gom” khoe là mua số lô hai cặp xiên ba của H là 62/87/50, 18/32/50, mỗi cặp 100.000 đồng, tổng tiền đánh lô của Đ ngày 06/01/2026 là 400.000 đồng và chuyển khoản cho H, Đ có trúng lô cặp xiên ba 18/32/50 là 100.000 đồng, nhân thành tiền 6.500.000 đồng.

Đối với hành vi đánh bạc của Đ và H trong 14 ngày với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng do chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội không đặt vấn đề xem xét, xử lý.

Đối với hành vi của Đặng Văn D mua số lô xiên với tổng số tiền 400.000 đồng vào ngày 18/01/2026, đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc thì không trúng cặp lô nào. D khai ghi số lô với H khoảng 8 đến 10 lần mỗi lần dưới 500.000 đồng vào các ngày khác nhau nhưng không có lần nào trúng đến số tiền 5.000.000 đồng. Lời khai của D phù hợp với lời khai của H và tài liệu chứng cứ thu thập được nên không đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với D về hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép đối với Đặng Văn D.

Đối với 01 chiếc xe Honda Wave máu trắng, BKS: 36F1 - 140.xx thu giữ của Phạm Văn Đ qua xác minh thuộc sở hữu của bà Bùi Thị L, sinh năm 1972, địa chỉ: Đường H, xã H, tỉnh L, Thanh Hóa nay là xã V, tỉnh Thanh Hóa là mẹ của bị can Phạm Văn Đ. Bà L không biết Đ sử dụng chiếc xe máy trên liên quan đến hành vi đánh bạc ghi số Lô, số Đề. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định xử vật chứng, trao trả chiếc xe máy cho bà L.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus qua điều tra thuộc sở hữu của bị can Phạm Văn H, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 7Z5G 128 GB, qua điều tra thuộc sở hữu của bị can Phạm Văn Đ và 01 chiếc điện thoại Oppo A32 màu xanh qua điều tra thuộc sở hữu của Đặng Văn D. Đối với 03 chiếc điện thoại này của H, Đ và D đều được sử dụng vào mục đích đánh bạc. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã thu giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 03 chiếc điện thoại được giám định các tin nhắn Zalo, Cơ quan CSĐT đã mở file dữ liệu, kiểm tra nội dung tin nhắn, tất cả đều liên quan đến Phạm Văn H, Phạm Văn Đ, Đặng Văn D liên lạc với khách hàng để giao hàng; tin nhắn liên quan đến mua bán số lô, số đề giữa H với D thì các đối tượng đã xóa tin nhắn nên không còn dữ liệu liên quan.

Tin nhắn mua bán số lô, số đề giữa Phạm Văn H với Phạm Văn Đ do Đ không xóa tin nhắn, các dữ liệu liên quan đến hành vi của Đ với H đều được thể hiện rõ khi Cơ quan điều tra trích xuất, in hình ảnh tin nhắn điện thoại, có xác nhận của H và Đ.

Với nội dung trên bản cáo trạng số 306/CT-VKSKV5, ngày 15/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 – Hà Nội quyết định truy tố các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H về tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa: Các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra và cáo trạng truy tố. Các bị cáo thừa nhận: Ngày 06/01/2026 các bị cáo H, Đ dùng số tiền 400.000 đồng để nhắn tin đánh bạc trên trang mạng Internet Website “Xuan Win” với các cặp số lô xiên hai 62.87; 18.32; xiên ba 62.87.50; 18.32.50. Sau khi có kết quả Xổ Số KTMB mở thưởng cùng ngày thì các bị cáo đã trúng thưởng cặp số lô xiên hai 18.32x100.000 đồng, trúng thưởng 1.700.000 đồng; cặp số lô xiên ba là 18.32.50x100.000 đồng, trúng thưởng 6.500.000 đồng và được trang Website “Xuan Win” trả thưởng tổng số tiền là 8.200.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo Đ và bị cáo H là 8.600.000 đồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dụng bản cáo trạng số 306/CT-VKSKV5, ngày 15/5/2026. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với các bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; (điểm i đối với bị cáo H), s khoản 1, (khoản 2 đối với bị cáo H) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ mức án phạt tù từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án; xử phạt bị cáo Phạm Văn H mức án phạt tù từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án;

Giao các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo Đ, H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn D dùng sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo; Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải truy nộp số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc là 8.000.000 đồng để tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải truy nộp số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc là 200.0000 đồng để tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo sau khi nghe quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo là đúng tội, không oan. Ngoài ra, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, đối đáp gì khác với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đều rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, các bị cáo đã nhận ra sai phạm. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình, làm công dân tốt có ích cho xã hội.

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả phần tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Hành vi đánh bạc của Phạm Văn Đ và Phạm Văn H qua kết quả kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7Z5G 128 GB của Phạm Văn Đ, thể hiện vào ngày 06/01/2026 các bị cáo H, Đ dùng số tiền 400.000 đồng để nhắn tin đánh bạc trên trang mạng Internet Website “Xuan Win” với các cặp số lô xiên hai 62.87; 18.32; xiên ba 62.87.50; 18.32.50. Sau khi có kết quả Xổ Số KTMB mở thưởng cùng ngày thì các bị cáo đã trúng thưởng cặp số lô xiên hai 18.32x100.000 đồng, trúng thưởng 1.700.000 đồng; cặp số lô xiên ba là 18.32.50x100.000 đồng, trúng thưởng 6.500.000 đồng và được trang Website “Xuan Win” trả thưởng tổng số tiền là 8.200.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo Đ và bị cáo H là 8.600.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 5 - Hà Nội truy tố: Bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi đánh bạc thể hiện các bị cáo lười lao động nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật để nhằm hưởng lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây thiệt hại về kinh tế của bản thân và gia đình của các bị cáo mà còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, văn hóa, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an trên địa bàn Thủ đô. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc đánh bạc dưới mọi hình thức đều bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng do hám lợi và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền bằng hình thức chơi số Lô, số Đề; cụ thể ngày 06/01/2026 các bị cáo H, Đ dùng số tiền 400.000 đồng để nhắn tin đánh bạc trên trang mạng Internet Website “Xuan Win” với các cặp số lô xiên hai 62.87; 18.32; xiên ba 62.87.50; 18.32.50. Sau khi có kết quả Xổ Số KTMB mở thưởng cùng ngày thì các bị cáo đã trúng thưởng và được trang Website “Xuan Win” trả thưởng số tiền 8.200.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo 8.600.000 đồng. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung;

- Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo Đ và bị cáo H thể hiện có sự bàn bạc, thống nhất về hoạt động phạm tội, phân công nhiệm vụ cụ thể, đó là hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó các bị cáo cùng nhau tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Về nhân thân các bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện nhân thân bị cáo Phạm Văn Đ, có 01 tiền án: - Tại bản án số 01/2016/HSST, ngày 27/01/2015 của TAND huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Phạm Văn Đ 05 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2014. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí. Theo quy định của pháp luật thì tiền án này của bị cáo đã được xóa án tích; nhân thân bị cáo Phạm Văn H chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, HĐXX đánh giá bị cáo H có nhân thân tốt;

Bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Ngoài ra, khi bị Cơ quan Công an kiểm tra thì các bị cáo đều đã giao nộp điện thoại giúp cho Cơ quan điều tra củng cố chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tin nhắn mua bán số lô, số đề giữa Phạm Văn H với Phạm Văn Đ do Đ không xóa tin nhắn, các dữ liệu liên quan đến hành vi của Đ với H đều được thể hiện rõ khi Cơ quan điều tra trích xuất, in hình ảnh tin nhắn điện thoại, có xác nhận của H và Đ. Các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H ngoài khai nhận hành vi phạm tội của mình còn tích cực, chủ động hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án cung cấp những chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý hành vi phạm tội của các bị cáo như cung cấp mật mã, chỉ nơi cất giấu file tài liệu trong điện thoại về việc ghi số lô, số đề của các bị cáo trên trang Website “Xuan Win” và đối tượng khác giúp cho Cơ quan điều tra củng cố chứng cứ, nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án và xử lý hành vi của các bị cáo Phạm Văn Đ và Phạm Văn H đúng người, đúng tội;

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Phạm Văn H có nhân thân tốt; Bị cáo Phạm Văn Đ nhân thân có 01 tiền án, theo quy định của pháp luật tiền án này đã được xóa án tích, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc không lớn, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cần thiết mở lượng khoan hồng cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; đồng thời giao các bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình theo dõi, giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[6]. Về xử lý vật chứng và tiền liên quan đến tội phạm, thu lợi bất chính:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus thu giữ của Phạm Văn H và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 7Z5G 128 GB, thu giữ Phạm Văn Đ. Xét những vật chứng này đều liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần thiết cho tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước;

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A32 màu xanh, số Imeil: 864204050445xxx, số Imei2: 864204050445xxx, thu giữ của Đặng Văn D. Xét, đây là vật chứng liên quan đến tội phạm, tuy nhiên hành vi vi phạm của anh D có mức độ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên cần thiết trả lại cho anh D chiếc điện thoại nàỳ;

- Đối với số tiền 8.000.000 đồng là tiền bị cáo bị cáo Phạm Văn Đ sử dụng vào việc đánh bạc và hưởng lợi từ việc đánh bạc, liên quan đến tội phạm nên cần thiết buộc bị cáo Đ phải truy nộp lại số tiền này để tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước;

- Đối với số tiền 200.000 đồng hưởng lợi về hành vi đánh bạc của bị cáo H do bị cáo Đ chuyển cho bị cáo H. Xét, đây là tiền hưởng lợi bất chính, tiền liên quan đến tội phạm nên cần thiết buộc bị cáo H phải truy nộp lại số tiền này để tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước;

[7]. Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi đánh bạc của Đ và H trong 14 ngày với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng do chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội không đặt vấn đề xem xét, xử lý;

- Đối với hành vi của Đặng Văn D mua số lô xiên với tổng số tiền 400.000 đồng vào ngày 18/01/2026, đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc thì không trúng cặp lô nào. D khai ghi số lô với H khoảng 8 đến 10 lần mỗi lần dưới 500.000 đồng vào các ngày khác nhau nhưng không có lần nào trúng đến số tiền 5.000.000 đồng. Lời khai của D phù hợp với lời khai của bị cáo H và tài liệu chứng cứ thu thập được nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhệm hình sự đối với D về hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép đối với Đặng Văn D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật;

- Đối với 01 chiếc xe Honda Wave máu trắng, BKS: 36F1 - 140.xx thu giữ của Phạm Văn Đ qua xác minh thuộc sở hữu của bà Bùi Thị L, sinh năm 1972, địa chỉ: Đường H, xã H, huyện L, Thanh Hóa nay là xã V, tỉnh Thanh Hóa là mẹ của bị cáo Phạm Văn Đ. Đây là tài sản hợp pháp của bà L, việc bị cáo Đ sử dụng chiếc xe máy trên liên quan đến hành vi đánh bạc ghi số Lô, số Đề. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định xử vật chứng, trao trả chiếc xe máy cho bà L là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, khó có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo cũng như không buộc bị cáo Phạm Văn H phải khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Đánh bạc”;

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018;

Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Phạm Văn Đ cho UBND xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách;

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019;

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Phạm Văn H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. (Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 19/01/2026 đến ngày 28/6/2026, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp thành phố (Cấp có thẩm quyền) nhận được bản án, quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Văn H;

Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo;

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phạm Văn H;

Trường hợp bị cáo Phạm Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ được quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước: - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI: 354834094916xxx, bên trong có gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Phạm Văn H; - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno, 7Z5G 128GB, số IMEI: 869447053882xxx, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Phạm Văn Đ;

+ Trả lại tài sản cho anh Đặng Văn D: - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A32, màu xANH, số IMEI: 864204050445xxx, số IMEI 2: 864204040445xxx, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Toàn bộ số vật chứng trên có đặc điểm, hiện trạng theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 27/5/2026 của Phòng hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội);

+ Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải truy nộp số tiền 8.000.000 đồng;

+ Buộc bị cáo Phạm Văn H phải truy nộp số tiền 200.000 đồng;

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt các bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ