- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG ____________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 248/2023/HS-ST Ngày: 02 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Chung im ang
2/ Đ on Thị Li u
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Ngọ Tu n – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ng Tr n Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 274/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Thị N, sinh ng y 17/03/1994. Tại huyện Đ, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 1 ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: 33 đường G, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1; Anh chị em ruột 11 người: lớn nhất sinh năm 1965, nhỏ nhất sinh năm 1990; Chồng V Văn P, sinh năm 1998 (Đã chết); Con: 01 người, sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 27/06/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến:
1. Anh Trƣơng Quố
inh n m
V ng m
Địa chỉ: Số 01 đường K1, phường S, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
2. Anh Nguy n V n Tỷ E inh n m
V ng m
Địa chỉ: Số 44/37 đường D, phường B1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Lê Thị N là người nghiện ma tuý, N bắt đầu sử dụng ma tuý khoảng 01 năm (loại khay và thuốc lắc). Nguồn ma tuý N sử dụng là được bạn b cho sử dụng c ng. Vào khoảng 23 giờ ngày 26/06/2023, người quen của N tên Khoa (không r tên, địa chỉ) đến nhà N tại số 33 đường Trần Văn Giàu, phường An Hoà, thành phố G, tỉnh Kiên Giang chơi, biết N có sử dụng ma tuý nên Khoa có cho N 01 bịch ma tuý khay và 03 viên thuốc lắc. N cất số ma tuý trên bàn trong phòng ngủ đến khoảng 02 giờ 35 phút ngày 27/06/2023 thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố G kết hợp Công an phường An Hoà bắt quả tang hành vi tàng trữ trái ph p chất ma tuý đối với Lê Thị N. Đến ngày 06/07/2023, N bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Bị cáo Lê Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Vậ hứng ủa vụ án:
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất và 03 (ba) viên n n màu xanh, được niêm phong theo quy định.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu gold, số imeil: 355782152028373, đã qua sử dụng.
* Tại bản kế luận giám định ố 658/KL-KTHS ngày 03 tháng 07 n m 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang xác định:
- Các hạt chất rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,5561 gam.
- 03 (ba) viên n n màu xanh, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0431 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (bút lục số: 32)
* Theo bản áo rạng ố: 289/CT.VKSRG ngày 09/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố ạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lê Thị N về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo ph hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ạch Giá và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố ạch Giá.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố ạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng x t xử tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thị N mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật có ký hiệu vụ số 658/2023, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, Người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. (Vật chứng đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 161, ngày 02/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G).
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ khi bắt quả tang là tài sản của bị cáo. X t thấy, không liên quan đến vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can theo Quyết định xử lý vật chứng số 81, ngày 30/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ạch Giá.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo nói lời nói sau c ng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng x t xử x t thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên ph hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và ph hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 02 giờ 35 phút ngày 27/06/2023 tại nhà số 33 đường Trần Văn Giàu, phường An Hoà, thành phố G, tỉnh Kiên Giang Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố G kết hợp Công an phường An Hoà bắt quả tang Lê Thị N tàng trữ trái ph p chất ma tuý, thu giữ trên bàn trong phòng ngủ của N 01 bịch ny lon bên trong chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất (Qua giám định là chất ma tuý loại Ketamin, có khối lượng 1,5561 gam) và 03 viên n n màu xanh (Qua giám định là chất ma tuý loại Methamphetamin, MDMA, có khối lượng 1,0431 gam). Mục đích bị cáo cất giấu ma tuý là để sử dụng không nhằm mục đích khác. Căn cứ hướng dẫn Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 28,6%, không đủ định lượng cấu thành tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị N phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố ạch Giá là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
X t về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xảy ra rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do xuất phát từ việc nghiện ma túy và muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã bất chấp lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là điều kiện để làm phát sinh tội phạm khác. Qua xem x t, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng x t xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt t có thời hạn, giam giữ bị cáo trong thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng x t xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật có ký hiệu vụ số 658/2023, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, Người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố G đã trả cho bị cáo Lê Thị N 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu gold, số imeil: 355782152028373, đã qua sử dụng là tài sản không liên quan đến hành vi pahm5 tội. X t thấy, việc trả tài sản cho bị cáo N của Cơ quan cảnh trả điều tra không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và không ai khiếu nai gì nên không xem x t.
X t đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là ph hợp nên Hội đồng x t xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên Khoa hiện chưa xác định được tên thật, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra, làm r khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị N phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý”.
Xử phạ : Bị cáo Lê Thị N mức án 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/06/2023.
Về xử lý vậ hứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật có ký hiệu vụ số 658/2023, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, Người chứng kiến niêm phong Lê Văn Biểu và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 203/QĐ-VKS ngày 09/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02/11/2023). * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. G; - Cơ quan THA Dân sự Tp.G; - Công an thành phố G; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ơ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |