vanban.org

Bản án 248/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2018. Không phạt bổ sung đối với bị cáo; Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2018/HSST
Ngày: 27/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hà Thị Dung

2. Bà Nguyễn Thị Bích Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 242/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên : Nguyễn Văn S, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1974

Nơi ĐKHKTT xóm P, xã B , huyê ̣n P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm ruộng.; trình độ học vấn 7/12. Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1948, con bà Nguyễn Thi ̣ Đ, sinh năm 1948; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ Dương Thi ̣ V, sinh năm 1981, có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2018 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng: Anh Phạm Đình T, sinh năm 1953, trú tại tổ A, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 10 phút, ngày 17/4/2018, tổ công tác Công an phườ ng Trung

Thành đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ Đ, phườ ng T, thành phố TH, phát hiện 01 ngườ i đàn ông đi xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Angle , màu đen, BKS: 20H2-1787 có biểu hiê ̣n liên quan đến ma tú y. Khi tổ công tác yêu cầu dừ ng xe kiểm tra, ngườ i đàn ông tự khai tên là Nguyễn Văn S . Tổ công tác phát hiê ̣n thu giữ t ại tất chân bên trái của S 02 gói giấy nhỏ màu bạc và 01 gói ni lông nhỏ màu trắng , bên trong đều có chứa chất bột màu trắng (S khai đó là Heroine ). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang

, niêm phong vâ ̣t chứ ng theo quy đi ̣nh. Ngoài ra còn thu giữ của S chiếc xe mô tô trên.

Tiến hành cân số ch ất màu trắng thu giữ được của Nguyễn Văn S ngày 17/4/2018 có khối lượng 0,948 gam và lấy mẫu gử i giám đi ̣nh ký hiê ̣u S.

Tại Kết luận giám định số 594/KL-PC54 ngày 19/4/2018 của Phòng kỹ thuâ ̣t hinh sự Công an tinh Thả

́i Nguyên kết luâ ̣n: Chất bô ̣t màu trắng trong mẫu

̀ S gử i giám đi ̣nh là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,948 gam.

Tại Cơ quan điều t

ra, Nguyễn Văn S khai nhâ ̣n : Khoảng 10 ngày 17/4/2018, S điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến khu vực nga tư đẽ

̀n tin h iệu

́ thuô ̣c phườ ng T, thành phố TH để mua ma túy sử dụ ng cho bản thân. Tại đây, S gă ̣p và mua của mô ̣t ngườ i đàn ông (không rõ lai li ̣ch , đi ̣a chỉ) 02 gói Heroine với giá 700.000đ. S cất số ma túy vừa mua được vào trong tất chân bên trái của S rồi đến nhà nghỉ P thuô ̣c tổ Đ, phườ ng T, thành phố TH thuê mô ̣t phò ng trên tầng hai. Tại đây, S chia 01 gói Heroine thành 02 gói nhỏ để sử dụng nhưn g do không có bơm kim tiêm nên S đi mua. Khi S ra đến ngõ 153, đườ ng G, thuô ̣c tổ Đ, phườ ng T, thành phố T H thì bị Tổ công tác Công an phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của Nguyễn Văn S phù hợp với biên bản bắt người phạm tô ̣i quả tang , biên bản mở niêm phong , cân xác đi ̣nh khối lượng , kết luâ ̣n giám đi ̣nh, lờ i khai của ngườ i chứ ng kiến và các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong ký hiệu S.

- 01 xe mô tô Honda màu đen đa qua sữ

̉ du ̣ng nhan hiê ̣̃

u Angle

, BKS: 20H2-1787, số khung B4X-033380, số máy HB-033380.

Hiện vâ ̣t chứ ng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

- Tại bản Cáo trạng số 241/CT-VKSTPTN ngày 23 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Trong phần luận tội, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đánh giá nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Văn S từ 24 đến 30 tháng tù giam.

- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu S.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen đa qua sữ

̉ du ̣ng nhan hiê ̣̃

u Angle , BKS: 20H2-1787, số khung B 4X-033380, số máy HB-033380 là tài sản riêng của bị cáo do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và vật chứng thu giữ. Hội đồng xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 10 phút, ngày 17/4/2018, tại tổ Đ, phường T, thành phố TH, Nguyễn Văn S đang có hành vi tàng trữ 0,948 gam Heroine để sử du ̣ng cho bản thân thi bi ̣ tổ công tác Công an phườ ng Trung Thành , thành phố Thái

̀ Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo biết ma túy là vật cấm được Nhà quản lý nhưng vấn cố tình tàng trữ 0,948 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy...thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………….

c, Heroine…có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Nguyễn Văn S chưa có tiền án tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình, bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không chịu cai nghiện, tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo thấy được sự nghiêm khắc của pháp luật đối với bị cáo để bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, rèn luyện bản thân cải tạo trở thành người tốt.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu S, là vật cấm và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen đa qua sữ

̉ du ̣ng n hãn hiệu Angle, BKS: 20H2-1787, số khung B 4X-033380, số máy HB -033380 là tài sản riêng của bị cáo do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước

Về hình phạt bổ sung và án phí

- Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng theo biên bản xác minh, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về nguồn gốc số Heroine b ị thu giữ theo Nguyễn Văn S khai mua của mô ̣t ngườ i đàn ông không quen biết ở khu vực nga tư đẽ

̀n tin hiê ̣u , thuô ̣c khu vực

́ phườ ng T, thành phố TH. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch , địa chỉ của người đàn ông trên nên C ơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2018. Không phạt bổ sung đối với bị cáo;

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu S (bên trong có chứa chất ma túy).

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen đa qua sữ

̉ du ̣ng nhan hiê ̣̃

u Angle , BKS: 20H2-1787, số khung B 4X-033380, số máy HB-033380.

Biên bản giao nhận vật chứng số 258 ngày 17/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ