- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 248/2018/HNGĐ-ST Ngày: 18/6/2018 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DAH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Chơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Bà Đinh Kim Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 621/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2018/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị C, sinh năm 1978
Địa chỉ: Đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh A, sinh năm 1978
Địa chỉ: Đường E, Phường G, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà C và ông A vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/7/2017 và các lời khai tiếp theo, bà Trương Thị C trình bày: Bà và ông A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007 nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, Quận D. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà về sống chung với gia đình ông A tại địa chỉ: Đường E, Phường G, Quận D, TP. Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông A đã phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách và bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, ông A không chăm lo cho gia đình nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Từ năm 2010, bà đã dọn về nhà mẹ ruột sống và vợ chồng bà đã chính thức sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay bà C xin được ly hôn với ông A.
Bà C xác nhận bà và ông A có 01 con chung tên Lê Thiên P, sinh ngày 25/02/2010. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà C xác nhận không có.
Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án nhân dân Quận 4 đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án đối với ông A nhưng hết hạn thông báo mà ông A vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà C. Tòa án cũng đã hai lần triệu tập ông A đến Tòa để dự phiên hòa giải (lần thứ nhất vào ngày 01/3/2018 và lần thứ hai vào ngày 27/03/2018) nhưng cả hai lần triệu tập, ông A đều vắng mặt không có lý do. Tòa án cũng đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, ông A vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết giấy triệu tập và thông báo về phiên họp hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được và trong hồ sơ vụ án không có ý kiến của ông A đối với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị C xin ly hôn ông Lê Thanh A. Giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà C không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét thấy bà Trương Thị C khởi kiện ông Lê Thanh A là vụ án dân sự tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ vào xác nhận của Công an Phường G, Quận D tại Phiếu xác minh ngày 08/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận 4 thì ông A có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Đường E, Phường G, Quận D, TP. Hồ Chí Minh nhưng nhà đã bán vào tháng 6/2017, hiện không thực tế cư ngụ tại địa phương, đi đâu không rõ. Như vậy, ông A đã thay đổi chỗ ở nhưng không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn, đã cố tình giấu địa chỉ nên theo Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa ngày 21/5/2018, nguyên đơn bà C có mặt, bị đơn ông A vắng mặt không có lý do (vắng mặt lần thứ nhất) nên Hội đồng xét xử không xét xử được vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà C vắng mặt (do có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đương sự, đơn đề ngày 21/5/2018), bị đơn ông A vắng mặt không có lý do (vắng mặt lần thứ 2). Vì vậy, căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về yêu cầu của các đƣơng sự nhận thấy:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà C và ông A tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2007 nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, Quận D và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2009 ngày 27/8/2009 nên hôn nhân của bà C và ông A là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống giữa bà C và ông A đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà C là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách và bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, ông A không có trách nhiệm, không quan tâm chăm sóc gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay bà C xin được ly hôn với ông A. Để có cơ sở xem xét yêu cầu của bà C, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi bà C và ông A sinh sống. Kết quả xác minh cho thấy: Ông A không chăm lo cho gia đình, thường xuyên vắng nhà. Bà C và ông A đã không còn chung sống với nhau từ 07 – 08 năm nay đúng như bà C đã trình bày. Từ tháng 6/2017 thì ông A và gia đình ông đã bán nhà, không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông A đến Tòa trong đó có hai lần triệu tập để tham dự phiên hòa giải đoàn tụ nhưng tất cả những lần triệu tập, ông A đều không đến Tòa. Tòa án cũng đã thông báo, niêm yết kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với ông A nhưng cho đến nay, ông A cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa bà C và ông A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà C là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4.
Về con chung: Căn cứ vào sự xác nhận của bà C và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà C và ông A có một con chung tên Lê Thiên P, sinh ngày 25/02/2010. Bà C xin được trực tiếp muôi dưỡng con chung. Xét cháu P hiện đang sống chung với bà C, bà C vẫn đang nuôi dạy con tốt. Mặt khác, tại bản tự khai ngày 01/02/2018, cháu P cũng có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà C, giao cháu P cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà C không yêu cầu ông A cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà C xác nhận không có, ông A vắng mặt không có lời khai về tài sản chung và nghĩa vụ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội, bà C phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2016,
- Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Bà Trương Thị C được ly hôn với ông Lê Thanh A.
- Về con chung: Bà Trương Thị C và ông Lê Thanh A có một con chung tên Lê Thiên P, sinh ngày 25/02/2010. Giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà C không yêu cầu ông A cấp dưỡng tiền nuôi con.
Ông A có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được quyền cản trở. Nhưng ông A không được lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đAg trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà C xác nhận không có, ông A vắng mặt không có lời khai tại Tòa về tài sản chung và nghĩa vụ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí HNGĐST:
Bà Trương Thị C chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008283 ngày 17/11/2017. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q4; - Chi cục Thi hành án dân sự Q4; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hồ Thị Chơn |