vanban.org

Bản án 247 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Ph được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ng .

Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung là cháu Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012 cho anh Bùi Văn Ph được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Giao cháu Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Ng được tr c tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Bùi Văn Ph được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ng ."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Ph được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ng .
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ Luật T tụng dân s; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 247/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Th nh ph n H i đ ng t

th g c :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài

Ông Nguyễn Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Na – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà

Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh tha gia phiên to : Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý s 203/2025/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s : 187/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa s : 161/2015/QĐST-DS ngày 09 tháng 09 năm 2025, Thông báo về việc mở lại phiên tòa s 204/2025/TB-TA ngày 23 tháng 9 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử s : 203/2025/TB-TA ngày 25 tháng 9 năm 2025 gi a các đương s :

Nguyên đơn: Anh Bùi Văn Ph , sinh năm 1992; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã Tr , huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh). Hiện nay đang s ng tại: 49-1, Xh, X Town, Y Country, T (Đ) (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ng , sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn V, xã Tr , huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh) (Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại h ơ vụ án anh

Bùi Văn Ph trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Ph và chị Nguyễn Thị Ng đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/2012 tại UBND xã Tr , huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở t nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng s ng hoà thuận, hạnh Ph đến năm 2022 thì anh Ph đi sang Đài Loan lao động. Tuy nhiên thời gian này do kho ng cách địa lý xa xôi và công việc bận rộn nên vợ chồng ít nói chuyện, quan T lẫn nhau. Đến năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và theo thời gian ngày càng gay gắt. Nguyên nhân x y ra mâu thuẫn do quan điểm s ng không hoà hợp, gi a chị Ng và anh Ph không còn tình c m và tiếng nói chung. Kể từ thời điểm đó đến nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan T đến nhau. Nay anh Ph xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng quá trầm trọng, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Bùi Văn Ph yêu cầu Tòa án gi i quyết cho anh Bùi Văn Ph được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng .

- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có 02 con chung gồm: Cháu thứ nhất là Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012; cháu thứ hai là Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018. Nay ly hôn anh Ph có nguyện vọng giao cháu Bùi Hoàng H cho anh Bùi Văn Ph tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Bùi Hoàng D cho mẹ là chị Nguyễn Thị Ng tr c tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Ph không yêu cầu chị Ng ph i cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Ngoài ra do anh Ph đang ở nước ngoài nên anh Ph xin tạm thời giao cháu Bùi Hoàng H cho ông bà nội là ông Bùi Văn T , sinh năm 1966 và bà Trần Thị Ng , sinh năm 1970 chăm sóc nuôi dưỡng đến khi anh Ph về nước.

- Về tài s n chung, nợ chung: Anh Bùi Văn Ph không yêu cầu Toà án gi i quyết.

Quá trình gi i quyết vụ án anh Ph đã được tiếp cận đầy đủ tài liệu do chị Ng giao nộp cũng như các văn b n t tụng của Tòa án. Do đang ở Đài Loan và điều kiện công việc nên không về gi i quyết vụ án được nên anh Ph xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình t tụng và ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho ông Nguyễn Viết Dũng, địa chỉ: S 24 – 26 Phan Đình Phùng, phường Nam Hà, thành ph Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh).

Tại bản tự khai đề ngày 11/08/2025 chị Nguyễn Thị Ng trình bày:

Chị Ng nhất trí với anh Ph về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị Ng đồng ý ly hôn với anh Ph . Về con chung chị Ng nhất trí với anh Ph và có nguyện vọng được tr c tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Hoàng D đến khi đủ 18 tuổi và đồng ý giao cháu Bùi Hoàng H cho anh Ph nuôi dưỡng. Trong thời gian anh Ph chưa về nước chị Ng đồng ý giao cháu Bùi Văn H cho ông bà nội nuôi dưỡng đến khi anh Ph về nước. Chị Ng không yêu cầu anh Ph ph i cấp dưỡng nuôi con. Về tài s n chung, nợ chung chị Ng không yêu cầu Toà án gi i quyết. Quá trình xét xử do ph i đi làm công nhân nên chị Ng xin được vắng mặt trong toàn bộ các phiên họp, phiên tòa.

- Kết quả xác minh tại địa phương nơi anh Bùi Văn Ph từng sinh sống trước khi xuất cảnh thể hiện:

Anh Bùi Văn Ph và chị Nguyễn Thị Ng đã đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau ngày 17/01/2012 tại UBND xã Tr , huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn anh Ph và chị Ng chung s ng với nhau tại nhà b mẹ chồng là ông Bùi Văn T và bà Trần Thị Ng tại thôn Vạn Ph , xã Tr (nay là xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh). Trong quá trình chung s ng vợ chồng thường xuyên cãi vã nhưng không nghiêm trọng, đến năm 2022 thì anh Ph sang Đài Loan lao động và vẫn thường xuyên liên lạc đến năm 2024 thì anh Ph và chị Ng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân cụ thể chính quyền không nắm bắt được. Do anh Ph ở nước ngoài không về nên chính quyền chưa từng hòa gi i mâu thuẫn vợ chồng cũng như không nắm bắt được địa chỉ cụ thể của anh Ph ở nước ngoài.

Về con chung 02 con chung gồm: Cháu thứ nhất là Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012; cháu thứ hai là Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018. Do chị Ng đi làm công nhân sáng đi t i về nên hai cháu đều được ông bà nội là ông Bùi Văn T và bà Trần Thị Ng chăm sóc vào ban ngày và buổi t i chị Ng đi làm về thì chị Ng đón các con về chăm sóc.

Ngoài ra, chị Ng đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu do anh Ph giao nộp cũng như các thông báo làm việc và văn b n thủ tục t tụng khác của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương s đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương s đã thỏa thuận th ng nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng kho n 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, kho n 1 Điều 28; điểm a kho n 1 Điều 37, Điều 39, kho n 4 Điều 147 Bộ Luật T tụng dân s năm 2015; điểm a kho n 5 Điều 27 Nghị quyết s 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Qu c hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình c m: Anh Bùi Văn Ph được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng .

- Về con chung: Giao cháu Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012 cho anh Bùi Văn Ph được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu H đến khi cháu H đủ 18 tuổi; Giao cháu Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Ng được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu D đến khi cháu D đủ 18 tuổi.

Anh Bùi Văn Ph , chị Nguyễn Thị Ng được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép c n trở.

- Về cấp dưỡng: Anh Bùi Văn Ph , chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu ph i cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

- Về tài s n chung và nợ chung: Anh Bùi Văn Ph và chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án gi i quyết nên miễn xét.

- Về án phí: Anh Bùi Văn Ph ph i chịu án phí gi i quyết vụ án ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại h ơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm át; ội đ ng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có xác nhận của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc (Đ) do anh Bùi Văn Ph gửi cho Tòa án thể hiện anh Bùi Văn Ph đang sinh s ng và làm việc tại 49-1, Zh Road, X Town, Y Country, T (Đ). Tại Công văn s 1280/QLXNC-Đ1 ngày 17/9/2025 của Phòng qu n lý Xuất nhập c nh Công an tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Anh Bùi Văn Ph xuất c nh ngày 21/9/2024, không thấy thông tin nhập c nh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền gi i quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại kho n 1 Điều 28, điểm a kho n 1 Điều 37 Bộ luật T tụng dân s . Đồng thời, anh Ph và chị Ng đều có yêu cầu Tòa án gi i quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật T tụng dân s năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt anh Bùi Văn Ph và chị Nguyễn Thị Ng theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Bùi Văn Ph và chị Nguyễn Thị Ng đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/2012 tại UBND xã Tr , huyện Đ , tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở t nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng s ng hoà thuận, hạnh Ph đến năm 2022 thì anh Ph đi sang Đài Loan lao động. Tuy nhiên thời gian này do kho ng cách địa lý xa xôi và công việc bận rộn nên vợ chồng ít nói chuyện, quan T lẫn nhau. Đến năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và theo thời gian ngày càng gay gắt. Nguyên nhân x y ra mâu thuẫn do quan điểm s ng không hoà hợp, gi a chị Ng và anh Ph không còn tình c m và tiếng nói chung. Kể từ thời điểm đó đến nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan T đến nhau. Nay anh Ph xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng quá trầm trọng, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Bùi Văn Ph yêu cầu Tòa án gi i quyết cho anh Bùi Văn Ph được ly hôn chị Nguyễn Thị Ng . Chị Ng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và đồng ý ly hôn với anh Bùi Văn Ph .

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây d ng cuộc s ng gia đình hạnh Ph , tiến bộ, vợ chồng ph i tôn trọng, quan T , chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân gi a anh Ph và chị Ng không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Khi biết việc anh Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Ng đồng ý và không có biện pháp gì để khắc phục và hàn gắn tình c m vợ chồng, hiện nay vợ chồng s ng mỗi người một nơi không có kh năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Bùi Văn Ph .

Về con chung:

Vợ chồng có 02 con chung gồm: Cháu thứ nhất là Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012; cháu thứ hai là Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018. Nay ly hôn anh Ph và chị Ng đều có nguyện vọng giao cháu Bùi Hoàng D cho anh Bùi Văn Ph tr c tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Bùi Hoàng D cho chị Nguyễn Thị Ng tr c tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ng và anh Ph đều th ng nhất do anh Ph đang ở nước ngoài nên trong thời gian chưa về nước tạm thời giao cháu Bùi Hoàng H cho ông bà nội là ông Bùi Văn T , sinh năm 1966 và bà Trần Thị Ng , sinh năm 1970 chăm sóc nuôi dưỡng cháu H đến khi anh Ph về nước. Vì vậy cần chấp nhận s thỏa thuận của các bên đương s giao cháu Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012 cho anh Bùi Văn Ph được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Giao cháu Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Ng được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi cháu D đủ 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung và nguyện vọng, điều kiện hoàn c nh của mỗi bên đương s . Anh Ph , chị Ng đều được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được c n trở. Trong thời gian anh Ph chưa về nước, tạm giao cháu Bùi Hoàng H cho ông bà nội là ông Bùi Văn T , sinh năm 1966 và bà Trần Thị Ng , sinh năm 1970 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh Ph và chị Ng đều không yêu cầu ph i cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Tòa án không xem xét.

Về tài s n chung, nợ chung: Các đương s không yêu cầu Tòa án gi i quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn ph i chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; kho n 1 Điều 28; điểm a kho n 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 271, 273, 464, 469, 479; kho n 4 Điều 147 Bộ luật t tụng dân s ; điểm a kho n 5 Điều 27 Nghị quyết s 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn Ph . Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Ph được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ng .

2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung là cháu Bùi Hoàng H , sinh ngày 12/10/2012 cho anh Bùi Văn Ph được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Giao cháu Bùi Hoàng D , sinh ngày 01/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Ng được tr c tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có s thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Văn Ph , chị Nguyễn Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được c n trở.

Anh Bùi Văn Ph , chị Nguyễn Thị Ng không ph i cấp dưỡng nuôi con cho nhau do anh Bùi Văn Ph , chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu.

4. Về án phí: Buộc anh Bùi Văn Ph ph i chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào s tiền tạm ứng án phí mà anh Bùi Văn Ph đã nộp theo biên lai s 0000320 ngày 30/6/2025 của Cục Thi hành án Dân s tỉnh Hà Tĩnh.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền cáo b n án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày b n án được niêm yết hợp lệ, bị đơn có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc kể từ ngày b n án được niêm yết. N i nhận:

Cỡ chữ