- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng T bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Hoàng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 247/2023/HS-ST Ngày: 31/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Nga
Bà Phạm Thị Hồng Lài
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 256/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 259/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, đối với:
Nguyễn Hoàng T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường O, Tổ O1, Ấp O3, xã B, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị Thúy L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 26/5/2023. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 26/5/2023, T rủ Trần Thanh P đến bãi đất trống thuộc xã P1, huyện B1 để xem đá gà, P đồng ý và sử dụng xe mô tô biển số 63P1-289.23 chở T đến địa điểm trên. Tại đây, T gặp một người đàn ông tên thường gọi là A1 (không rõ lai lịch), T hỏi mua của A1 một hộp 10 ma túy đá với giá 3.000.000 đồng, A1 đồng ý bán. Lúc này, A1 kêu T ngồi lên xe máy (không rõ biển số) của A1, sau đó A1 chở T đi một đoạn rồi A1 lấy 02 gói ma túy đá ra bán cho T nhưng T chỉ trả trước 1.000.000 đồng và nợ lại A1 2.000.000 đồng. Sau khi mua được 02 gói ma túy, T cất giấu trong túi quần phía trước, bên phải của T đang mặc rồi đi bộ quay về chỗ đá gà gặp P và kêu P chở về nhà. T không nói cho P biết về việc T mua, cất giữ số ma túy và Phong không hùn tiền mua hay sử dụng ma túy cùng T.
Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/5/2023, Tổ tuần tra 363 phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an huyện Bình Chánh và Công an xã Phong Phú, huyện Bình Chánh tuần tra đến trước địa chỉ đường I, Ấp Y, xã P1, huyện B1 thì phát hiện Trần Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 63P1-289.23 chở theo Nguyễn Hoàng T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu được T khai nhận là ma tuý đá cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Bản kết luận giám định số 5654/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon thu giữ của Nguyễn Hoàng T lúc bắt quả tang là ma tuý ở thể rắn, có tổng khối lượng 10,3014g, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định có tổng khối lượng 10,3014g là ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1577412 cùng 02 sim cắt thu giữ của Nguyễn Hoàng T.
Tại bản Cáo trạng số 233/CT-VKS-BC ngày 28/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Nguyễn Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/5/2023, trước địa chỉ đường I, Ấp Y, xã P1, huyện B1, Nguyễn Hoàng T có hành vi tàng trữ 10,3014g ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Hoàng T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Trần Thanh P không biết việc T mua, cất giấu ma tuý trong người nên không liên quan đến hành vi phạm tội của T. Đối với đối tượng bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về xử lý vật chứng:
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định có tổng khối lượng 10,3014g là ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine: Cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1577412 cùng 02 sim cắt thu giữ của Nguyễn Hoàng T: Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Hoàng T.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Nguyễn Hoàng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T: 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
+ Tịch thu tiêu hủy 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine;
+ Trả lại cho Nguyễn Hoàng T 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1577412 cùng 02 sim.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND huyện Bình Chánh; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh; - CQTHAHS Công an huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |