vanban.org

Bản án 247/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn .

Buộc bà Nguyễn Thị QP có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần SN tính đến ngày 26/5/2023 số tiền là 181.462.596 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng Nợ gốc: 57.646.536 đồng; Lãi quá hạn: 123.816.060 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn .
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 247/2023/DS-ST
Ngày: 26/5/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Thức

2. Bà Trương Thị Lệ Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452/2023/QĐXX-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 298/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

NguyêNguyên đơn : Ngân hàng TMCP SN

Người đại diện hợp pháp: Ông Thân Lê N, sinh năm: 1978

Địa chỉ liên lạc: Lầu 8, số 266-268, Phường X, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Giấy ủy quyền số 364/2023/UQ-TGĐ ngày 24/02/2023

Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị QP, sinh năm 1972

Hộ khẩu thường trú: 57A CM, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn , Ngân hàng TMCP SN do ông N là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 09/11/2013, bàP có ký với Ngân hàng TMCP SN (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng. Sau đó, đến tháng 12/2013 Ngân hàng đã nâng hạn mức sử dụng thẻ tín dụng của Bà P lên 60,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, Sau khi được cấp Thẻ tín dụng. Bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1,751,074,110 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1,722,078,943 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng BàP vẫn không có thiện chi trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/12/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 26/5/2023, bà P còn nợ: Nợ gốc: 57.646.536 đồng; Lãi quá hạn: 123.816.060 đồng; Tổng cộng: 181.462.596 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà P phải có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên đên nay bà P vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ngân hàng, đề nghị tòa án tuyên buộc bà Nguyễn Thị QP phải trả ngay cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 26/5/2023 là 181.462.596 đồng và yêu cầu bà P phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/5/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập của Tòa án cho bị đơn là bà Nguyễn Thị QP nhưng bà P không đến Tòa trong các buổi triệu tập làm việc và vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà P.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

NguyêNguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị QP phải thanh toán số nợ còn lại tính đến hết ngày 26/5/2023 theo hợp đồng ngày 09/11/2013 số tiền 181.462.596 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng Nợ gốc: 57.646.536 đồng; Lãi quá hạn: 123.816.060 đồng; thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị QP được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án quá hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn , còn bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần SN khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị QP trả khoản nợ vay theo hợp đồng đã ký kết với ngân hàng. Đây là tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp thì Nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản được hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn .

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, bà P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của Nguyên đơn . Như vậy, bà P đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà Nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/11/2013; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng; có cơ sở xác định giữa bà P và Ngân hàng có giao kết hợp đồng thẻ tín dụng, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 60.000.000 đồng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân, lãi suất và phí theo Biểu phí áp dụng chung cho các sản phẩn dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng. Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và bà P là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo thỏa thuận tại Điều 19 Bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bà P phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào trước ngày đến hạn được ghi trong Thông báo giao dịch. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 26/5/2023 là 181.462.596 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng Nợ gốc: 57.646.536 đồng; Lãi quá hạn: 123.816.060 đồng; thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 điều 474 Bộ luật dân sựnăm 2005.

Kể từ ngày 27/5/2023 bà P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà P phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí: Căn cứ quy định của Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu tiền án phí trên phần nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nguyên đơn . Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Nguyên đơn .

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngảy tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227 ,Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 149, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ khoản 3 Điều 5, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn .

Buộc bà Nguyễn Thị QP có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần SN tính đến ngày 26/5/2023 số tiền là 181.462.596 (Bằng chữ: Một trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm chín mươi sáu) đồng Nợ gốc: 57.646.536 đồng; Lãi quá hạn: 123.816.060 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 09/11/2013. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị QP còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 09/11/2013 cho đến khi thi hành xong. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị QP phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.073.130 (Một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn không trăm mười bốn) đồng.

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần SN được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.777.000 (Một triệu bảy trăm bảy mươi bảy ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2017/0041059 ngày 06/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần SN có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn bà Nguyễn Thị QP có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ