vanban.org

Bản án 247/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Trường V, sinh ngày 11/7/2005 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/11/2008 cho chị Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Thùy T không yêu cầu. Anh Nguyễn Thanh H có quyền và nghĩa vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiền;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Đang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 573/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1981; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1976; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 19/10/2006, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh H tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, anh Nguyễn Thanh H thường xuyên đánh đập vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Nhựt Q, sinh ngày 26/02/2002, Nguyễn Xuân M, sinh ngày 27/7/2003, Nguyễn Trường V, sinh ngày 11/7/2005 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/11/2008, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, con chung chị yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Trường V và Nguyễn Minh T, không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con; cháu Nguyễn Nhựt Q và Nguyễn Xuân M đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn anh Nguyễn Thanh H cư trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Thanh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thị Thùy T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thùy T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh H nhưng anh Nguyễn Thanh H vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/8/2006 tại Quyển số I, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Nguyễn Thị Thùy T đề nghị Tòa án cho ly hôn vì cho rằng trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, anh Nguyễn Thanh H thường xuyên đánh đập vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Khi chị Nguyễn Thị Thùy T có đơn xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh Nguyễn Thanh H nhưng anh Nguyễn Thanh H không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy T, tại phiên tòa anh Nguyễn Thanh H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Điều đó đã cho thấy anh Nguyễn Thanh H đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị Nguyễn Thị Thùy T. Xét thấy, tình cảm và đời sống chung của vợ chồng của chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Thanh H đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H là phù hợp.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Thanh H có 04 con chung tên Nguyễn Nhựt Q, sinh ngày 26/02/2002, Nguyễn Xuân M, sinh ngày 27/7/2003, Nguyễn Trường V, sinh ngày 11/7/2005 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/11/2008, hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Thùy T. Khi ly hôn, con chung chị yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Trường V và Nguyễn Minh T, không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con; cháu Nguyễn Nhựt Q và Nguyễn Xuân M đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, hiện tại cháu Nguyễn Trường V và Nguyễn Minh T đang sống cùng chị Nguyễn Thị Thùy T, cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt, hiện tại chị Nguyễn Thị Thùy T có công việc thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc tốt con chung. Mặt khác, tại các bản tự khai cùng ngày 25/10/2022, cháu Nguyễn Trường V và Nguyễn Minh T trình bày ý kiến có nguyện vọng được sống cùng chị Nguyễn Thị Thùy T. Đối với anh Nguyễn Thanh H từ khi vụ án thụ lý giải quyết cho đến khi xét xử cũng không có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất, sự phát triển về tinh thần, cũng như các quyền lợi khác của con chung nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Trường V và Nguyễn Minh T cho chị Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Thùy T không yêu cầu.

Cháu Nguyễn Nhựt Q và Nguyễn Xuân M đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thùy T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Trường V, sinh ngày 11/7/2005 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/11/2008 cho chị Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Thùy T không yêu cầu.

Anh Nguyễn Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016804 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem thi hành xong.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ