- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa bà Phùng Thị L và ông Võ Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 247/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28/12/2021 V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Điền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tươi.
2. Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2021, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2021HH/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị L - Sinh năm 1996. (có mặt) Nơi cư trú: Khối Tân K, phường Điện D, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
2. Bị đơn: Ông Võ Quang H - Sinh năm 1995. (vắng mặt) Nơi cư trú: Khối Ngọc V, phường Điện N, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 7 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Phùng Thị L trình bày:
1.Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phùng Thị L và ông Võ Quang H kết hôn với nhau vào ngày 26 tháng 6 năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Điện N, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, liên tục xảy ra cải vã, bất đồng quan điểm. Từ khi bà L sinh con ông H không quan tâm và thiếu trách nhiệm của một người chồng, người cha. Ông H không chu cấp tiền để nuôi con vì ông H không chịu đi làm khiến bà L rất chán nản và mệt mỏi. Bà L và ông H sống ly thân hơn một năm nay, phần ai nấy sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà Phùng Thị L làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Quang H.
2. Về nuôi con chung: Bà L và ông H có 01 con chung: Võ Văn Thiện L - Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2019. Hiện nay con đang ở với bà L. Nếu ly hôn, bà Phùng Thị L yêu cầu được nuôi cháu L. Bà Phùng Thị L không yêu cầu ông Võ Quang H cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Không có.
Ngoài yêu cầu trên bà Phùng Thị L không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Võ Quang H không có mặt tại phiên toà.
Sau khi Toà án thụ lý vụ án, đã tiến hành các thủ tục theo quy định của BLTTDS, triệu tập đương sự nhưng ông Võ Quang H không chấp hành giấy triệu tập. Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì xác định ông H vẫn đang sinh sống, làm việc và cư trú tại khối phố Ngọc V, phường Điện N, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập cũng như các giấy tờ khác của Toà án gởi cho ông H.
Toà án tiến hành làm thủ tục thực hiện việc niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông Võ Quang H vẫn không chấp hành giấy triệu tập của Toà án.
Đại diện VKSND thị xã Điện Bàn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập cũng như các quy định khác của pháp luật. VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28, 35, 39 của BLTTDS; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị L đối với ông Võ Quang H. Về con chung: Giao con Võ Văn Thiện L - Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2019 cho bà Phùng Thị L nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Bà Phùng Thị L không yêu cầu ông Võ Quang H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phùng Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Võ Quang H. Đây là tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 BLTTDS. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Về tố tụng: Ông Võ Quang H không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, Toà án đã tiến hành lập thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại điều 179 của BLTTDS nhưng ông Võ Quang H vẫn không đến Toà án. Căn cứ vào Điều 227 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Võ Quang H.
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa bà Phùng Thị L và ông Võ Quang H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà L khai là do vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, bất đồng quan điểm. Từ khi bà L sinh con ông H không quan tâm và thiếu trách nhiệm của một người chồng, người cha. Ông H không chu cấp tiền để nuôi con vì ông H không chịu đi làm. Bà L và ông H sống ly thân hơn một năm nay, mỗi người ở mỗi nơi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà Phùng Thị L làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Quang H.
HĐXX xét thấy: Tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng và kéo dài. Xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy ông Võ Quang H có mặt tại địa phương nhưng không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án. Không đến Tòa án trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật. Như vậy, đời sống chung giữa bà Phùng Thị L và ông Võ Quang H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, 53, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho bà Phùng Thị L được ly hôn ông Võ Quang H là phù hợp.
Về nuôi con chung: Bà L và ông H có 01 con chung Võ Văn Thiện L - Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2019. Hiện nay con đang ở với bà L. Nếu ly hôn, bà Phùng Thị L yêu cầu được nuôi cháu L. Bà Phùng Thị L không yêu cầu ông Võ Quang H cấp dưỡng nuôi con chung.
HĐXX xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ. Xét thấy cháu Võ Văn Thiện L - Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2019 còn nhỏ nên việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục rất cần thiết trong giai đoạn này. Từ khi sinh ra đến nay cháu L được bà L nuôi dưỡng, ông H không có trách nhiệm đối với con chung. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên giao cháu Võ Văn Thiện L cho bà Phùng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Phùng Thị L không yêu cầu ông Võ Quang H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Không có.
Về án phí:Căn cứ điều 147 của BLTTDS; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phùng Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Cho ly hôn giữa bà Phùng Thị L và ông Võ Quang H.
2. Về nuôi con chung: Giao con Võ Văn Thiện L - Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2019, cho bà Phùng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Bà Phùng Thị L không yêu cầu ông Võ Quang H cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Võ Quang H được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Bà Phùng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí HNST đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004425 ngày 22/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Phùng Thị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Toà án Tỉnh; - VKSND thị xã; - Các đương sự; - CCTHADS thị xã; - UBND Phường Điện N; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Điền |