- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 04/4/2018.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số:247 /2018/HSST Ngày: 27/6/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Âu Văn Hồ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Tú
2. Bà Trần Thị Lan Hương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền Nhung, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Tiến, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 232/2018/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hoàng T, tên gọi khác: không; sinh ngày 28 tháng 7 năm 1984;
Nơi ĐKNKTT: xóm A, xã C, thành phố T, tỉnh T.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1985; Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/04/2018 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. ( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng: Anh Phạm Trung H, sinh năm 1986, trú quán: xóm Hi, xã H, huyện Đ, tỉnh T
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 04/4/2018 tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 23, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên đã phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện cất giấu ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Trần Hoàng T, sinh năm 1984, trú tại xóm A, xã C, thành phố T. Quá trình kiểm tra T đã phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc mày vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng được đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long, (T khai đó là Heroinne). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày cân xác định chất bột màu trắng đã thu giữ của T có khối lượng là 0,267 gam.
Tại bản kết luận định giá số 564/KL-PC54 ngày 11/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ được của Trần Hoàng T ngày 04/4/2018 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroin
Tại cơ quan điều tra, Trần Hoàng T khai nhận: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/4/2018 T một mình đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến khu vực tổ 18, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên với mục đích tìm mua Hê rôin để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi T gặp một nam thanh niên không quen biết, qua giao dịch T mua của nam thanh niên đó 01 gói Heroinne được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000đồng. Sau khi mua được hêrôin T cho vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất giấy vào túi quần phía trước bên trái T đang mặc rồi đi tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng. Khi đến khu vực tổ 23, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận của Trần Hoàng T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án:
01 phong bì niêm phong ký hiệu T1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 238/CT-VKSTPTN ngày 21/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 238/CT-VKSTPTN ngày 21/5/2018 và nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T: Từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T1.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hoàng T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/4/2018 tại khu vực tổ 23, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên. Trần Hoàng T đã có hành vi tàng trữ 0,267 gam Heroinne mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
. Bản cáo trạng số 238/CT-VKSTPTN ngày 21/5/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, bản thân là người nghiện ma túy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T1 (Bì niêm phong chứa chất ma túy – Mẫu hoàn sau giám định). Mặt sau bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Bùi Tuấn Anh, Quách Minh Hải cùng 3 dấu tròn của Phòng KTHS – Công an tỉnh Thái Nguyên. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 270 ngày 28/5/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của 01 nam thanh niên không quen biết, do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự
1/ Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 04/4/2018.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Trần Hoàng T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T1(Bì niêm phong chứa chất ma túy – Mẫu hoàn sau giám định). Mặt sau bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Bùi Tuấn Anh, Quách Minh Hải cùng 3 dấu tròn của Phòng KTHS – Công an tỉnh Thái Nguyên. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 270 ngày 28/5/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
4/.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Hoàng T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã Cao Ngạn, TP Thái Nguyên. - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Âu Văn Hồ |