vanban.org

Bản án 247/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Trương Thị Thúy K và ông Nguyễn Văn C được ly hôn.

Về con chung: Bà K được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Tuyết D sinh ngày 25/01/2009 và Nguyễn Hoàng Gia B sinh ngày 23/11/2016 hiện đang sống với bà. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở việc thăm co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà K xin ly hôn ông C"
  • Tòa quyết gì? Bà Trương Thị Thúy K và ông Nguyễn Văn C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 247 / 2018 / HNGĐ - ST
Ngày: 20 / 7 / 2018
“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm C:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang B.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Hùng ;

2. Ông Lê Văn Phu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử công khai vụ án thụ lý số: 149/2018/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 về việc “ Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Bà Trƣơng Thị Thúy K, sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Vĩnh Ngữ, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. ( C đơn xin xét xử vắng mặt )

2. Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Vĩnh Ngữ, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà K trình bày: Năm 2007, bà và ông C tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Sau nhiều năm chung sống, bà nhận thấy giữa hai người C nhiều khác biệt về cách sống, ông C bỏ bê vợ con, ăn nhậu, cờ bạc không lo làm ăn nên phát sinh mâu thuẫn và cả hai sống ly thân từ ngày 05/01/2018 đến nay. Nay xin ly hôn.

Con chung: C 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết D sinh ngày 25/01/2009 và Nguyễn Hoàng Gia B sinh ngày 23/11/2016 hiện đang sống với bà. Ly hôn bà K C nguyện vọng được nuôi dưỡng con và bà không cần ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn C không C văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêuc ầu khởi kiện của bà K.

Cháu Nguyễn Thị Tuyết D trình bày: Cháu là con chung của bà K và ông C. Nguyên nhân cha mẹ ly hôn là do ông C thường xuyên ăn nhậu không lo cho các cháu, thời gian gần đây ông C cũng không C về thăm các cháu. Nay cha mẹ ly hôn cháu C nguyện vọng muốn sống với mẹ.

Để xác định nguyên nhân, tình trạng mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của bà K, ông C, Tòa án đã thực hiện thủ tục xác minh đối với ông Trương Văn T, cha ruột bà K và được ông T cho biết ông C không quan tâm chăm sóc vợ con mà chỉ lo ăn nhậu, gia đình hai bên nhiều lần khuyên can nhưng không thành, trong đời sống vợ chồng thường xảy ra cải vả.

Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai chứng cứ cũng như hòa giải để động viên ông bà chung sống lại nhưng do ông C vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà K C đơn xin vắng mặt, trình bày trong đơn là vẫn bảo lưu các ý kiến đã trình bày trong quá trình hòa giải cũng như trong đơn khởi kiện, ông C vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo pháp luật, không có vi phạm; tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( ghi tắt là HĐXX ) không thuộc trường hợp phải thay đổi, Thẩm phán đã công bố các lời khai của đương sự vắng mặt; bà K có đơn xin xét xử vắng mặt riêng ông C vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã triệu tập hợp lệ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà K nên xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà K, ông C C đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên bà K có đơn xin ly hôn và căn cứ vào các chứng cứ do Tòa án thu thập được về tình trạng hôn nhân của ông bà thì mâu thuẫn là trầm trọng, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà K. Về con chung đề nghị HĐXX giao cho bà K nuôi dưỡng, về nghĩa vụ cấp dưỡng và phân chia tài sản chung, nợ chung do bà K không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu C trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà K C đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Phú giải quyết về việc hôn nhân, nuôi con chung với ông C, các đương sự C nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà K có đơn xin xét xử vắng mặt, ông C vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 2007, bà K và ông C tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 2017 thì ông bà mới thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân của ông bà phát sinh giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện trong thời gian chung sống giữa bà K, ông C thường xảy ra mâu thuẫn, ông C bỏ bê không chăm sóc vợ con, nhiều lần xảy ra mâu thuẫn và gia đình hai bên đã hòa giải hàn gắn nhưng không thành, hiện cả hai đã không còn chung sống với nhau, thời gian không chung sống ông C có về thăm các con hồi năm 2017 sau đó không thấy về nữa. Ông C không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà K, không tham gia các phiên hòa giải nên xem như ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng của ông, bà là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần cho ông, bà ly hôn.

Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng:

Bà K khai ông bà có 02 con chung là Nguyễn Thị Tuyết D sinh ngày 25/01/2009 và Nguyễn Hoàng Gia B sinh ngày 23/11/2016 hiện đang sống với bà. Ly hôn bà K có nguyện vọng được nuôi dưỡng con và bà không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy: Cháu D có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn và bà K hiện đang nuôi dưỡng 02 con chung, để đảm B cho sự phát triển ổn định của các cháu, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu D và cháu B cho bà K nuôi dưỡng. Ông C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, bà K và người thân không được cản trở việc thăm con chung. Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà K không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Trường hợp sau này ông, bà có yêu cầu chia tài sản chung thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Bà Trương Thị Thúy K và ông Nguyễn Văn C được ly hôn.

Về con chung: Bà K được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Tuyết D sinh ngày 25/01/2009 và Nguyễn Hoàng Gia B sinh ngày 23/11/2016 hiện đang sống với bà. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở việc thăm con của ông.

Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Án phí: Bà K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, tuy nhiên được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002963 ngày 08/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ