vanban.org

Bản án 246/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lương Quang B. Giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 1, ngày 29 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban nhân dân huyện HĐ, huyện HH, tỉnh NĐ cấp cho ông Lương Quang B và bà Nguyễn Thị S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/3/2024
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Diệu Huệ.

2/ Bà Lê Thị Tý.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Hoàng P – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: ông Trần Quang Lộc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1289/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1984.

Địa chỉ: đường HL2, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: ông Lương Quang B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: đường HL2, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/11/2023, biên bản hòa giải ngày 10/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Lương Quang B sau thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, cả hai đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện HĐ, huyện HH, tỉnh NĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 1, ngày 29/12/2005.

Trong quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã và nhiều lần ông Lương Quang B đánh đập bà S, không sẻ chia với bà S trong việc nuôi dạy con cái, nay bà thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, bà đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết cho bà các yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông Lương Quang B.

Về con chung: trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị S xác nhận có 03 (ba) con chung tên Lương Tuấn D, sinh ngày 08/12/2006; trẻ Lương Quỳnh Bảo C, sinh ngày 18/11/2012 và trẻ Lương Hoàng P, sinh ngày 19/11/2020. Bà Nguyễn Thị S yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Lương Quang B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị S xác nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông Lương Quang B có lên cung cấp lời khai cho Tòa án ngày 15/12/2023 và có đưa ra ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng sau đó Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần tiến hành triệu tập ông Lương Quang B lên để làm việc nhưng ông Lương Quang B không lên để làm việc và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định theo Bộ Luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lương Quang B.

Về con chung: trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị S xác nhận có 03 (ba) con chung tên Lương Tuấn D, sinh ngày 08/12/2006; trẻ Lương Quỳnh Bảo C, sinh ngày 18/11/2012 và trẻ Lương Hoàng P, sinh ngày 19/11/2020. Giao 03 (ba) con chung cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà Nguyễn Thị S không yêu cầu ông Lương Quang B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị S và ông Lương Quang B đã tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 29/12/2005 tại Ủy ban nhân dân huyện HĐ, huyện HH, tỉnh NĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 1. Ông Lương Quang B cư trú tại địa chỉ: đường HL2, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn nộp đơn ly hôn với bị đơn tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã triệu tập ông Lương Quang B đến Tòa án để tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Lương Quang B không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án nhân dân quận Bình Tân tiến hành xét xử vắng mặt ông Lương Quang B theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Xét yêu cầu của đương sự:

Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn có đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị S và ông Lương Quang B đã tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 29/12/2005 tại Ủy ban nhân dân huyện HĐ, huyện HH, tỉnh NĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 1. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với ông Lương Quang B và bị đơn có bản khai với nội dung không đồng ý ly hôn. Sau đó Tòa án đã triệu tập bị đơn để tiến hành hòa giải quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng nhưng ông Lương Quang B vẫn cố tình vắng mặt, điều đó chứng tỏ ông Lương Quang B không có ý muốn hàn gắn tình cảm gia đình nữa. Theo trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì Ủy ban nhân dân phường chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị S và ông Lương Quang B. Ngoài ra, theo lời khai của nguyên đơn thì hai vợ chồng trong quá trình chung sống ông Lương Quang B đã có hành vi hành hạ bà S, không quan tâm, chăm sóc vợ, con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lương Quang B.

Về con chung: trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị S và ông Lương Quang B đều xác nhận có 03 (ba) con chung tên Lương Tuấn D, sinh ngày 08/12/2006; trẻ Lương Quỳnh Bảo C, sinh ngày 18/11/2012 và trẻ Lương Hoàng P, sinh ngày 19/11/2020. Bà Nguyễn Thị S yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại các bản tự khai của trẻ Lương Tuấn D, sinh ngày 08/12/2006 và trẻ Lương Quỳnh Bảo C, sinh ngày 18/11/2012 thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Nguyễn Thị S. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lương Quang B không có ý kiến nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị S.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị S khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí:

Án phí hôn nhân là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị S tự nguyện chịu và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai tạm thu án phí, lệ phí số AA/2023/0026848 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị S đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lương Quang B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 1, ngày 29 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban nhân dân huyện HĐ, huyện HH, tỉnh NĐ cấp cho ông Lương Quang B và bà Nguyễn Thị S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị S và ông Lương Quang B đều xác nhận có 03 (ba) con chung tên Lương Tuấn D, sinh ngày 08/12/2006; trẻ Lương Quỳnh Bảo C, sinh ngày 18/11/2012 và trẻ Lương Hoàng P, sinh ngày 19/11/2020. Giao 03 (ba) con chung tên Lương Tuấn D, Lương Quỳnh Bảo C và Lương Hoàng P cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà Nguyễn Thị S không yêu cầu ông Lương Quang B cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

2.Về án phí:

Án phí hôn nhân là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị S tự nguyện chịu và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai tạm thu án phí, lệ phí số AA/2023/0026848 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị S đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị.

Viện kiểm sát được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ