vanban.org

Bản án 246/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đào Thị N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 246/2021/HS-ST
Ngày: 29-6- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quý

Bà Nguyễn Thị Loan

- Th ký phiªn toµ: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tßa ¸n TP Thanh Ho¸.

- §¹i diÖn VKSND Thµnh phè Thanh ho¸ tham gia phiªn toµ:

Bà Nguyễn Thị Hải Yến - KiÓm s¸t viªn

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa¸ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 246/2021/TLST- HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2021/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Đào Thị N - sinh năm 1981 tại Thanh Hóa. ĐKHK: khu tập thể Đ, phường M, quận C, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Xuân N2 và bà: Trịnh Thị T; chồng là Nguyễn Quốc D (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13h00’ ngày 24/3/2021, tổ công tác Công an tỉnh Thanh Hóa phường Q, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực phố M, phường Q, thành phố T (đoạn đường đi vào trường Đại học C, cơ sở T) phát hiện bắt quả tang Đào Thị N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu của N 02 gói nilong màu vàng bên trong là giấy trắng chứa chất bột màu trắng, N khai đó là ma túy mua về để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra N khai nhận: Do muốn sử dụng ma túy nên sáng ngày 23/3/2021 N một mình đi đến khu vực gầm cầu vượt Q2, thuộc phường Q2, thành phố T để tìm mua ma túy. Tại đây, N gặp và nhờ một nam thanh niên khoảng 20 tuổi nhưng không biết tên và địa chỉ mua hộ 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Sau đó, N mang về nhà chia thành 02 gói nhỏ và cất trong người để khi cần sẽ lấy ra sử dụng. Đến khoảng 13h00 ngày 24/3/2021 khi N đang đứng trước cổng nhà mẹ đẻ ở phố M, phường Q, thành phố T (đoạn đường đi vào trường Đại học C, cơ sở T) thì bị tổ công tác Công an phường Q phát hiện, bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 1167/PC09 ngày 26/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,135g loại Hêrôin.

Đối với người thanh niên mua hộ ma túy cho N, do N không biết tên và địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Đào Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 13h00 ngày 24/3/2021 tại phố M, phường Q, thành phố T. Đào Thị N đã tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có tổng khối lượng 0,135g loại Hêrôin.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Đào Thị N có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

Nhân thân và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, người phạm tội là phụ nữ có thai nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s, n khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng không có tính chất vụ lợi, trọng lượng ma túy không lớn nên không cần phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với số ma túy thu của bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đào Thị N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 170 /THA ngày 27/5/2021.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.[[

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Cỡ chữ