vanban.org

Bản án 246/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ v o điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ngu n H. Sửa qu ết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t. u ên bố: B cáo Ngu n H N) ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t t i sản”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ v o điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TÒA N N N N N ÒA X
N Đ N
Đ c

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2017/HSPT
Ngày: 30/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚ

N Ò X

N

Ệ N M

Ò N N N N N Đ N

ÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Ngu n h Mai

Các thẩm phán:

Ông ô Phú Đông

Ông Ngô ấn Lợi

hư ký òa án ghi biên bản phiên tòa: ng Ph m n uấn Em – hư ký òa án nhân dân tỉnh Đồng háp.

Ð i diện iện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng háp tham gia phiên tòa: Bà Ngu n Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 n m 2017, t i trụ sở òa án nhân dân tỉnh Đồng háp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 219/2017/HSPT ngày 03 tháng 8 n m 2017 đối với b cáo Ngu n H.

Do có kháng cáo của b cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 24/2017/HSST ngày 26 tháng 6 n m 2017 của òa án nhân dân th nh phố S.

B cáo có kháng cáo:

N UYỄN

- ên gọi khác: N;

- Sinh n m 1987;

- ĐK : Số 22/17, đường H, Khóm A, Phường N, TP. S, tỉnh Đồng háp

- Chỗ ở: Ấp P, xã , TP. S, tỉnh Đồng háp;

- Nghề nghiệp: Lái xe;

- rình độ v n hóa: 12/12;

- Con ông Ngu n , sinh n m 1959 v con b Lưu h Kim H1, sinh n m 1962;

- ợ: Ngu n h hanh , sinh n m 1992;

- Con: có 01 con tên Ngu n H2, sinh n m 2016;

- Anh, ch , em: có 01 người tên Ngu n h Phương , sinh n m 1989;

- iền sự: Không;

- iền án: Có 01 tiền án. Bản án số 57/2010/HSS ng 01/12/2010 của Tòa án nhân dân hu ện L, tỉnh Đ xử ph t 01 n m 06 tháng tù giam về các tội “Cướp giật t i sản” v tội “ rộm cắp t i sản”. Chấp h nh xong hình ph t tù v o ng 06/3/2011, thi h nh xong hình ph t bổ sung v o ng 14/7/2016, chưa được xóa án tích;

- m giữ: Ng 30/3/2017;

- m giam: Ng 08/4/2017;

- Hiện b cáo đang b t m giam t i r i t m giam Công an tỉnh Đồng háp (có mặt t i phiên tòa).

Người b h i: Anh rần Quang M, sinh n m 1987;

HK : 353/21 đường Ngu n D, Phường A, Quận B, th nh phố H.

Chỗ ở: 353A H, Khóm 4, Phường N, th nh phố S, tỉnh Đồng háp có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

N N

Y

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

o khoảng tháng 8/2016 Ngu n H đến trung tâm ngo i ngữ Ho n M tọa l c số 353A, đường H, Khóm 4, Phường N, th nh phố S, do anh rần Quang M l m giám đốc để học Anh v n. rong quá trình học tập, H được b n học cùng lớp l anh õ rọng B cho biết òa án nhân dân hu ện C, đang thụ lý 02 vụ án dân sự tranh chấp qu ền sử dụng đất v hợp đồng va giữa b Ngu n h Y, ch Ngu n Yến mẹ v ch ruột của anh M) với ch Ngu n hảo C ch ruột của anh M) đã kéo d i nhiều n m nhưng chưa được đưa ra xét xử v có ý nhờ Hiếu giúp đỡ.

Ng 20/9/2016 anh B hẹn anh M đến quán c phê Góc P tọa l c Khóm 4, Phường N, th nh phố S để gặp H, nhờ H giúp đỡ sớm đưa 02 vụ án nêu trên ra xét xử. i đâ , anh M trình b nội dung 02 vụ án tranh chấp giữa b Y, ch với ch C v đưa to n bộ các giấ tờ có liên quan cho H xem. Sau khi xem xong, H hứa sẽ tìm cách giúp đỡ cho b Y v ch thắng kiện. Sau đó, H lên m ng xã hội đ ng nhập v o di n đ n “ tô fun” v kết b n với ông r (không rõ họ tên, đ a chỉ) tự giới thiệu l Luật sư tư vấn pháp lý, H liền trao đổi nội dung vụ án tranh chấp qu ền sử dụng đất của b Y, ch cho ông r biết, ông r cho biết khả n ng b Y, ch sẽ thắng kiện cao.

Đến ng 23/9/2016, H điện tho i cho anh M đặt vấn đề chi phí để b Y, ch thắng kiện vụ án tranh chấp qu ền sử dụng đất với số tiền l 100.000.000đồng, số tiền n H nói l sẽ đưa l i cho những người có thẩm qu ền trong òa án nhân dân hu ện C v tác động họ để vụ án sớm đưa ra xét xử, được anh M đồng ý. Để t o lòng tin, H còn rủ anh M đến quán c phê Góc P uống bia cùng một số cán bộ trong ng nh ư pháp tỉnh Đồng .

Ng 01/10/2016 H được òa án nhân dân tỉnh Đ, tu ển dụng v o ng nh v công tác t i òa án nhân dân hu ện C với nhiệm vụ lái xe ô tô. rong thời gian l m việc t i đâ , H nhìn thấ l ch thông báo xét xử nên biết vụ án tranh chấp hợp đồng va giữa b Y với ch C sẽ được òa án nhân dân hu ện C mở phiên tòa xét xử v o ng 21/10/2016. Sau đó, H tiếp tục lên m ng xã hội đ ng nhập v o di n đ n “ tô fun” gặp ông riết để trao đổi nội dung vụ án hợp đồng va của b Y thì ông r cho biết khả n ng b Y sẽ thắng kiện nên H điện tho i cho anh M nói chi phí để b Y thắng kiện vụ án tranh chấp hợp đồng va với số tiền l 1.500 USD, số tiền n H nói sẽ đưa cho Hội đồng xét xử, được anh M đồng ý. Khoảng 20 giờ ng 20/10/2016, H đến trung tâm ngo i ngữ Ho n M đưa điện tho i di động Samsung Galax E7 đã b hư m n hình của Lãnh đ o òa án nhân dân hu ện C m trước đó có nhờ H đi sửa cho anh M xem. Sau đó, H đề ngh anh M đưa cho H 500 USD để cả hai hùn tiền mua tặng Chánh án 01 điện tho i di động iPhone 7 Plus thì được anh M đồng ý. Do không biết đ a điểm bán điện tho i nên H lấ ra 13.500.000 đồng của mình v 500 USD vừa nhận được đưa l i cho anh M để mua 01 điện tho i di động iPhone 7 Plus tr giá 23.900.000 đồng. Sau khi mua điện tho i xong, anh M đưa cho H v H đã lấ sử dụng cá nhân.

Ngày 21/10/2016 Tòa án nhân dân hu ện C mở phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng va giữa b Y với ch C, kết quả Hội đồng xét xử tu ên xử: Đình chỉ xét xử khởi kiện của b Y êu cầu ch C trả số tiền va 400.000.000 đồng. hấ kết quả xét xử không được như mong muốn của gia đình anh M, nên khoảng 20 giờ cùng ng H đến trung tâm ngo i ngữ Ho n M gặp anh M nói dối với anh M l mục đích của Chủ tọa phiên tòa đình chỉ xét xử vụ án để b Y l m thủ tục kháng cáo v nhờ hư ký òa án nhân dân tỉnh Đ quen biết với H sẽ l người thụ lý hồ sơ giúp cho b Y thắng kiện. Anh M tưởng thật nên tiếp tục đưa cho H nhận số tiền 1000 USD v 2.500.000 đồng cho thư ký đánh bản án nhanh. Sau khi nhận tiền xong, ng 24/10/2016 H đến tiệm v ng Hiệp tọa l c số 03, đường L, Khóm 1, Phường C, th nh phố S gặp ông rần n để đổi 1000 USD được số tiền 22.500.000 đồng, số tiền n H sử dụng v o việc tiêu x i cá nhân.

Ng 07/11/2016, H tiếp tục điện tho i cho anh M nói dối l lãnh đ o òa án C kêu anh M đưa 100.000.000 đồng để sớm đưa vụ án tranh chấp qu ền sử dụng đất ra xét xử v giúp b Y, ch thắng kiện. Anh M tưởng thật nên khoảng 20 giờ ng 08/11/2016 t i trung tâm ngo i ngữ Ho n M, anh M đưa cho H nhận số tiền 80.000.000 đồng, H kêu anh M đưa thêm 2.000.000đ để H đưa cho thư ký đánh má đơn kháng cáo vụ kiện va tiền, do đó H nhận của anh M số tiền l 82.000.000đ.

Đến ng 17/12/2016, Hiếu nhắn tin qua m ng Zalo êu cầu anh M đưa cho H tiếp số tiền 20.000.000 đồng còn l i trong số tiền 100.000.000 đồng đã thỏa thuận trước đó. Khoảng 17 giờ cùng ng , anh M hẹn H đến quán sinh tố không rõ bảng hiệu, đ a chỉ) thuộc Phường N, th nh phố S để đưa tiếp cho nhận số tiền 15.000.000 đồng.

ổng cộng: số tiền Hiếu nói dối để chiếm đo t tiền của anh M l 99.500.000 đồng v 1500 USD. Số tiền có được H không đưa cho bất kỳ ai hoặc tác động những người có thẩm qu ền trong việc giải qu ết 02 vụ án dân sự của b Y, ch m H sử dụng v o việc tiêu x i cá nhân hết.

Đối với anh M sau khi đưa tiền cho H xong, anh M thường xu ên liên l c với H để hỏi về tiến độ giải qu ết 02 vụ án nêu trên, nhưng H nhiều lần hứa hẹn. hấ sự việc kéo d i, kết quả giải qu ết vụ án không được như mong muốn v H còn êu cầu anh M đưa tiếp số tiền 45.000.000 đồng nên ng 26/01/2017 anh M l m đơn tố cáo H gửi đến hường trực Hội đồng nhân dân hu ện C. Sau đó, đơn của anh M được chu ển đến Công an th nh phố S thụ lý giải qu ết theo thẩm qu ền. Biết được sự việc anh M l m đơn tố cáo, sợ sự việc b phát hiện nên ng 16/02/2017 H hẹn anh M đến quán c phê Đ tọa l c khóm , phường An H, thành phố S thỏa thuận việc trả l i tiền v êu cầu anh M viết biên nhận ghi số tiền 99.500.000 đồng v 1500 USD m anh M đưa cho H th nh tiền đặt cọc mua xe ô tô biển số 66A-119.83 để cả hai không b tru cứu trách nhiệm hình sự nhưng anh M không đồng ý.

Đến ng 29/3/2017, H mượn của ông õ Phước số tiền 70.000.000 đồng v đến trung tâm ngo i ngữ Ho n M trả l i cho anh M thì b Công an th nh phố S lập biên bản sự việc, đồng thời thu giữ:

- 01 điện tho i di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus m u đen trắng, bên trong có sim số 0916111101; 01 điện tho i di động nhãn hiệu Nokia m u đen, bên trong có sim số 0888056156; Số tiền 70.000.000 đồng của Ngu n H;

- 01 giấ biên nhận do Ngu n H viết nhận nợ của b Ngu n h Y v anh rần Quang M bằng giấ kẻ ngang;

- 01 điện tho i di động nhãn hiệu LG m u v ng – đen – trắng đã qua sử dụng của anh rần Quang M;

- 01 USB hiệu Kingston m u xanh, dung lượng 04 GB do anh M giao nộp, bên trong có lưu trữ: 02 file video ghi l i hình ảnh H trao đổi, trả l i số tiền 70.000.000 đồng t i trung tâm ngo i ngữ Ho n M; 01 file ghi âm cuộc nói chu ện giữa anh M, Ngu n H, anh õ rọng B v anh õ Phước t i quán c phê Đ v o ng 16/02/2017 về việc trao đổi l m biên nhận số tiền 99.500.000 đồng v 1500 USD.

i Công v n số 310/ CKH ng 21/4/2017 của Phòng i chính - Kế ho ch th nh phố S xác đ nh:

- Giá USD ng 20/10/2016, 01 USD đổi được 22.340 đồng;

- Giá USD ng 21/10/2016, 01 USD đổi được 22.350 đồng.

rong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố S đã trao trả:

- Số tiền 70.000.000 đồng cho anh õ Phước .

- 01 điện tho i di động hiệu LG m u v ng – đen – trắng cho anh rần Quang M nhận l i xong.

- B Lưu h Kim H1 mẹ của b cáo H) đã khắc phục, trả l i cho anh M số tiền 33.020.000 đồng, anh M nhận xong v tiếp tục êu cầu b cáo bồi thường số tiền còn l i l 100.000.000 đồng, đồng thời anh M có đơn bãi n i xin giảm nhẹ hình ph t cho b cáo. i phiên tòa anh M xác đ nh gia đình b cáo đã nộp thêm 5.000.000đ, còn l i 95.000.000đ anh M êu cầu b cáo bồi thường số tiền còn l i l 95.000.000 đồng, b cáo đồng ý bồi thường theo êu cầu anh M.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2017/HSST ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:

u ên bố: B cáo Ngu n H N) ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t t i sản”.

Áp dụng: Điểm e khoản 2 Điều 139, Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự:

Xử ph t: B cáo Ngu n H mức án 05 n m) n m tù. hời h n tù tính từ ngày 30/3/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 7 n m 2017, b cáo Ngu n H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 10 tháng 7 n m 2017, anh rần Quang M người b h i) có đơn bãi n i v xin giảm nhẹ hình ph t cho b cáo.

Ý kiến của đ i diện iện kiểm sát tỉnh Đồng háp, đề ngh : C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ngu n H, sửa qu ết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t đề ngh giảm cho b cáo từ 01 n m đến 01 n m 06 tháng tù. Lý do sau khi án sơ thẩm xử gia đình b cáo đã bồi thường số tiền còn l i l 95.000.000đ, người b h i có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho b cáo. Ngoài ra án sơ thẩm chưa xem xét ông Ngu n l cha b cáo) có th nh tích trong quá trình công tác, mẹ b cáo b bệnh.

C n cứ v o các chứng cứ, t i liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; c n cứ v o kết quả tranh luận t i phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầ đủ, to n diện t i liệu, chứng cứ, ý kiến của đ i diện iện kiểm sát, lời khai b cáo v những người tham gia tố tụng khác.

XÉT

Y:

B cáo Ngu n H l người có tiền án theo bản án số 57/2010/HSS ng 01/12/2010 của òa án nhân dân hu ện L, xử ph t 01 n m tù về tội “ rộm cắp t i sản” v tổng hợp 06 tháng tù về tội “Cướp giật t i sản”, b cáo chưa được xóa án tích. Sau đó b cáo xin v o l m t i xế lái xe cho Tòa án nhân dân hu ện C. Như vậ b cáo cũng có nghề nghiệp, có việc l m ổn đ nh v có lương h ng tháng để lo cho bản thân. Nhưng trước khi v o l m việc b cáo l i muốn có tiền tiêu x i theo sở thích cá nhân m không phải lao động cực nhọc. ừ ý nghĩ đó nên b cáo đã tìm cách để lừa đảo chiếm đo t t i sản của người b h i. B cáo lừa đảo bằng cách nói với người b h i đang là Giám đốc trung tâm ngo i ngữ l b cáo sẽ tác động được lãnh đ o Tòa án, cán bộ òa án sẽ sớm đưa vụ án ra xét xử v lo cho hội đồng xét xử sẽ xử thắng kiện theo êu cầu b h i. Nhưng với điều kiện phải đưa cho b cáo số tiền là 99.500.000 đồng v 1.500 USD để b cáo lo lót cho những người trên.

Xét thấ h nh vi ph m tội của b cáo l rất ngu hiểm cho xã hội, b cáo xin vào Tòa án hu ện làm t i xế l để tiếp tục dùng thủ đo n để lừa người b h i tin. Do đó khi v o công tác b cáo tìm hiểu v biết được người xét xử 2 vụ kiện của người b h i v ng xét xử vụ kiện. B cáo nói với người b h i bằng nhiều cách như: Lãnh đ o òa án kêu đưa tiền, mua điện tho i cho lãnh đ o, đưa tiền để lo cho người xét xử vụ án, rủ b n l m việc trong ng nh đi uống rượu giới thiệu mối quan hệ cho người b h i biết tin tưởng b cáo và b cáo còn nói phải lo cho thư ký đánh má bản án nhanh. Ngo i ra khi cấp sơ thẩm xử người b h i thua kiện b cáo còn nói với người b h i sẽ có thư ký òa án cấp tỉnh lo và sẽ xử thắng kiện.

Bằng các thủ đo n trên b cáo l m cho người b h i tin tưởng v đưa tiền cho b cáo nhiều lần. B cáo v o l m việc ng 01/10/2016 thì đến ng 24/10/2016 kêu b h i đưa tiền mua Iphone 7 Plus v đến tháng 11/2016 bắt đầu nhận tiền từ người b h i rất nhiều lần. Sau khi nhận tiền b cáo không đưa cho bất kỳ ai trong Tòa án cũng không tác động ai trong việc giải qu ết 02 vụ án dân sự của b Y, ch . Số tiền nhận từ người b h i b cáo khai b cáo sử dụng v o việc trả nợ tiền, đua xe trái phép t i P H và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi nhận số tiền lớn b cáo vẫn chưa dừng l i m còn kêu người b h i đưa thêm cho b cáo số tiền 45.000.000đ nữa. Nhưng lúc n người b h i đã nghi ngờ b cáo nên không tiếp tục đưa thêm v tố cáo đến Công an. B cáo biết người b h i có đơn tố cáo nên êu cầu b h i viết biên nhận số tiền đưa cho b cáo l tiền đặt cọc mua xe ô tô để cả hai không ph m tội. Người b h i không đồng ý theo êu cầu b cáo nên ng 29/3/2017, b cáo mượn của ông õ Phước số tiền 70.000.000đ trả l i cho người b h i, thì b Công an th nh phố S bắt giữ b cáo cùng tang vật.

H nh vi ph m tội của b cáo đã xâm ph m đến t i sản của người khác một cách trái pháp luật. Ngo i ra còn l m ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội, l m mất lòng tin của người dân đối với Cơ quan pháp luật v b cáo còn l m mất u tín của cán bộ trong Ngành Tòa án. Do đó cần có thời gian cải t o giáo dục b cáo nghiêm khắc để có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội hiện na . Án sơ thẩm xử b cáo về tội “Lừa đảo chiếm đo t t i sản” theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự l có c n cứ, đúng người v đúng tội. Nhưng xét thấ sau khi án sơ thẩm xử gia đình b cáo đã bồi thường số tiền còn l i l 95.000.000đ v được người b h i có đơn bãi n i v xin giảm nhẹ hình ph t cho b cáo. Ngoài ra án sơ thẩm chưa xem xét ông Ngu n (l cha b cáo) có th nh tích trong quá trình công tác, mẹ b cáo b bệnh. Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo v giảm cho b cáo một phần về hình ph t, l phù hợp theo đề ngh của đ i diện iện kiểm sát.

Các phần khác của qu ết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ng hết thời h n kháng cáo, kháng ngh .

Do kháng cáo của b cáo được chấp nhận nên không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

C n cứ v o điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾ ĐỊN

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của b cáo Ngu n H. Sửa qu ết đ nh bản án sơ thẩm về hình ph t.

u ên bố: B cáo Ngu n H N) ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t t i sản”.

Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 139, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;

Xử ph t: B cáo Ngu n H 03 (ba) n m tù. hời h n tù tính từ ng 30/3/2017.

Các phần khác của qu ết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ng hết thời h n kháng cáo, kháng ngh .

ề án phí: B cáo Ngu n H không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng tu ên án.

M

Đ N X X

M

Cỡ chữ