vanban.org

Bản án 245/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG VĂN C - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HS-PT
Ngày: 31-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My

Các Thẩm phán:

1. Bà Lưu Thị Thu Hường

2. Ông Võ Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Quyết Chiến - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 265/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Văn C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: ĐẶNG VĂN C; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 3 năm 1987, tại thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 109/2006/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2006, bị Tòa án nhân dân Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 30/6/2007 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2023. Hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Lê Văn B, Phan Mạnh H không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn C quen biết với Phan Mạnh H và Lê Văn B. C làm nghề buôn bán các mặt hàng thời trang làm từ da động vật như ví, túi xách…, làm từ da bò, da cá sấu; buôn bán đồ thủ công mỹ nghệ như vòng đeo tay, mặt dây chuyền làm từ trầm hương…. Quá trình buôn bán, C biết được có nhiều khách hàng có nhu cầu mua các sản phẩm của động vật hoang dã như nanh, móng loài Hổ, G, B3; lông, túi mật động vật các loại…, để trị bệnh và bọc kim loại vàng, bạc đeo làm đồ trang sức. Qua tìm hiểu, C biết được các sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như loài Hổ, loài Báo, loài Gấu, sản phẩm chế tác từ Ngà loài Voi…, được nhiều khách hàng hỏi, tìm mua và có trị giá cao trên thị trường nên C đã buôn bán các sản phẩm này để kiếm lời.

Khoảng từ năm 2020 đến ngày 20/4/2023, Đặng Văn C đã sử dụng các số thuê bao di động 0911.708.080, 0914.822.222… để đăng ký các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Zalo có tên là “Đặng C” và “Dang Van C2” và đăng ký nhiều tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Facebook có tên là “Cường Đắk L”; “Đặng Văn C”; “Già làng”… để phục vụ cho việc buôn bán các sản phẩm của động vật hoang dã. Để mua được các sản phẩm của động vật hoang dã về bán lại kiếm lời thì C được một số người bạn quen biết ngoài xã hội và trên mạng internet giới thiệu hướng dẫn, C sử dụng các tài khoản mạng xã hội của mình để đăng ký tham gia vào các nhóm kín trên mạng xã hội Zalo và Facebook chuyên giới thiệu, quảng cáo, chia sẻ thông tin về hoạt động buôn bán các sản phẩm động vật hoang dã. Ngoài ra, C còn tự lập các nhóm kín do C làm quản trị viên như nhóm: “anh em ba miền”; “Bán hàng uy tín” để đăng tải các hình ảnh, video sản phẩm động vật hoang dã mà C lấy thông tin và mua về bán lại kiếm lời như nanh, móng H1, G, Báo … Khi tham gia các nhóm kín trên mạng xã hội để buôn bán các sản phẩm của động vật hoang dã, C đã sử dụng các tài khoản Zalo, Facebook của mình để kết bạn với nhiều tài khoản Zalo, Facebook của nhiều người khác nhau ở các tỉnh thành, để buôn bán các sản phẩm của động vật hoang dã. Sau đó, C thông qua các dịch vụ bưu chính, giao hàng nhanh, xe khách chạy các tuyến liên tỉnh để buôn bán, vận chuyển, giao, nhận các sản phẩm và thực hiện giao dịch thanh toán tiền qua chuyển khoản ngân hàng bằng số tài khoản 5228205789267 do C đăng ký tại Ngân hàng N1 chi nhánh B4 và số tài khoản 023100676854 do C đăng ký tại Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh B4. Do không có sổ sách theo dõi việc buôn bán nên C không nhớ đã buôn bán bao nhiêu sản phẩm, cụ thể những sản phẩm gì và thu được bao nhiêu tiền lời.

Đến khoảng năm 2022, thấy H không có việc làm và thu nhập ổn định nên C thỏa thuận với H là cho H lấy các sản phẩm động vật hoang dã mà C mua về để bán kiếm lời khi nào bán được hàng mới thanh toán tiền cho C thì H đồng ý. Sau đó, H đã sử dụng số thuê bao di động 0858.447.557 để đăng ký tài khoản trên mạng Facebook có tên là “Hào P” và đăng ký tài khoản trên mạng xã hội Zalo có tên là “Manhhao” tham gia vào các nhóm kín để đăng hình ảnh, video các sản phẩm động vật hoang dã mà C bán cho H để bán lại kiếm lời. H thanh toán tiền với C bằng cách sử dụng tài khoản ngân hàng số 0231000676957 đăng ký tại Ngân hàng V chi nhánh B4 để chuyển tiền vào các số tài khoản của C.

Ngày 20/4/2023, Phan Mạnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn: Đỏ đen, biển số 47M1- 079.39 do chị gái H là Phan Thị Tố N làm chủ sở hữu, đi đến nhà C xem các sản phẩm của động vật hoang dã để mua bán kiếm lời, H thỏa thuận mua của C 02 nanh loài lợn với giá 200.000 đồng/01 nanh; 01 móng loài Báo lửa bọc kim loại màu vàng với giá 1.000.000 đồng và 01 ví da cá sấu thì C đồng ý. Đến 15 giờ cùng ngày, H cất các sản phẩm trên vào cốp xe mô tô 47M1- 079.39 và rời khỏi nhà C đi đến một quán cà phê trên đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (H không nhớ cụ thể địa chỉ và tên quán cà phê) giao chiếc ví trên cho Trần Trung H2, sinh năm 1999, trú tại: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì phát hiện có chốt Cảnh sát giao thông đứng trên đường L, thành phố B (gần cầu trắng, phía đối diện trường Cao đẳng sư phạm tỉnh Đ). Lúc này, H điều khiển xe mô tô quay đầu đi về lại nhà C, đồng thời H lấy 01 móng loài Báo để trong cốp xe giấu trong gấu quần. Khi H điều khiển xe mô tô đi vào đường C, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, để đi về nhà C thì bị tổ công tác của Phòng C4 Công an tỉnh Đ kiểm tra, phát hiện trong cốp xe mô tô mang biển số 47M1-079.39 do bị cáo H điều khiển có 02 nanh loài lợn, màu trắng nghi là sản phẩm của động vật hoang dã, không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp nên bị Phòng C4 Công an tỉnh Đ tạm giữ và niêm phong; đồng thời tạm giữ: 01 xe mô tô mang nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn: Đỏ đen, số khung : RLHJF240XBY120241, số máy : JF24E0669775, mang biển số 47M1- 079.39; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số imei: 357263091383136. Đối với 01 chiếc móng Báo lửa bọc kim loại màu vàng nêu trên, do H giấu trong gấu quần của H nên không bị phát hiện tạm giữ. Sau đó, vào ngày 21/4/2023 H đã tự nguyện giao nộp 01 móng loài Báo lửa màu trắng, bọc kim loại màu vàng cho Phòng C4 Công an tỉnh Đ tạm giữ và niêm phong. Ngoài ra, giữa C và H còn mua bán với nhau nhiều sản phẩm động vật hoang dã khác nhưng do không ghi sổ sách theo dõi nên H không nhớ cụ thể.

Mở rộng xác minh, ngày 20/4/2023, Phòng C4 Công an tỉnh Đ tiến hành làm việc với Đặng Văn C tại địa chỉ: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì C đã tự nguyện giao nộp cho Phòng C4 Công an tỉnh Đ tạm giữ, niêm phong theo thủ tục hành chính 154 sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã gồm: 07 vật dạng móng động vật, màu trắng đựng trong túi ni lông (túi số 1); 06 vật dạng móng động vật, màu đen đựng trong túi ni lông (túi số 2); 15 vật dạng nanh động vật, màu trắng, mỗi nanh một đầu có bọc kim loại màu bạc, đựng trong túi ni lông (túi số 3); 04 vật gồm: 01 vật dạng nanh động vật, màu trắng, một đầu nanh gắn kim loại màu bạc; 01 vật dạng nanh động vật, màu trắng; 01 vật dạng răng động vật, màu trắng; 01 vật có dạng móng động vật, màu trắng, bọc kim loại màu bạc, tất cả đựng trong túi ni lông (túi số 4); 100 vật dạng lông động vật, màu đen, có chiều dài từ 40 đến 45 cm, đựng trong túi ni lông (túi số 5); 06 vật hình tròn, màu trắng dạng vòng đeo tay, trong đó có hai vật (một vật có một đầu bọc kim loại màu bạc gắn hạt có màu xanh; một vật có một đầu bọc kim loại màu bạc gắn hạt có màu đỏ) đựng trong túi ni lông (túi số 6); 15 vật có dạng túi mật, màu đen đựng trong túi ni lông (túi số 7). Nhận định tại chỗ ở của C còn cất giấu tang vật vi phạm hành chính nên Phòng C4 Công an tỉnh Đ đã tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định khám xét nơi ở của Đặng Văn C, tại địa chỉ: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắ, kết quả phát hiện tạm giữ và niêm phong 179 sản phẩm có nguồn gốc động vật hoang dã gồm: 109 vật có dạng móng động vật, màu đen đựng trong túi ni lông (túi số 8); 70 vật có dạng móng động vật, màu đen, bọc kim loại màu bạc, một số có gắn hạt màu xanh và đỏ, đựng trong túi ni lông (túi số 9).

Ngoài ra, Phòng C4 Công an tỉnh Đ còn tạm giữ của Đặng Văn C 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 12 Pro Max, màu vàng, có số Imei: 350141787969797; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Pro Max, màu vàng, có số Imei: 353890106636530; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 7 Plus, màu vàng, có số Imei: 359217079239239 và 01 đầu ghi camera nhãn hiệu HIKVION màu đen. Trong số 333 sản phẩm bị Phòng C4 Công an tỉnh Đ tạm giữ, C khai có 115 móng loài Gấu là sản phẩm thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, 07 móng loài Sư tử là sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, các sản phẩm bị tạm giữ còn lại là sản phẩm của động vật thông thường như T1, B1, C3 và đồ mỹ nghệ làm từ nhựa.

Tiếp tục mở rộng xác minh, Phòng C4 Công an tỉnh Đ còn làm rõ vào thời gian khoảng cuối tháng 03/2023, Đặng Văn C bán cho Lê Văn B 10 móng loài Sư tử. Nhận định tại nơi ở của B có cất giấu tang vật vi phạm hành chính nên Phòng C4 Công an tỉnh Đ đã tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định khám xét nơi ở của B, địa chỉ: Số A B, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk, kết quả phát hiện tạm giữ và niêm phong 51 sản phẩm có nguồn gốc động vật hoang dã gồm: 21 vật hình tròn màu trắng, dạng nhẫn, bọc kim loại màu bạc; 04 vật có hình dạng móng động vật màu trắng, bọc kim loại màu vàng; 04 vật có hình dạng nanh động vật màu trắng, trong đó có 01 nanh động vật màu trắng một đầu bọc kim loại màu vàng; 22 vật gồm: 18 vật hình tròn dạng vòng đeo tay xâu chuỗi hạt màu trắng và 03 vật có hình tròn, dạng vòng đeo tay, màu trắng. Ngoài ra, Phòng C4 Công an tỉnh Đ còn tạm giữ của B các đồ vật gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy S10, số IMEI 1: 35674410146789, số IMEI 2: 35674410146789; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu trắng, số IMEI 1: 356744101404211, số IMEI 2: 356744101404229; 01 cuốn vở học sinh và 01 cuốn hóa đơn (có ghi nội dung bên trong và đã được Lê Văn B ký từng trang).

Tại cơ quan điều tra B khai nhận: Năm 2020, khi B ở tại địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì B có đăng ký hộ kinh doanh S đồ da mỹ nghệ để buôn bán đồ phong thủy mang tên Lê Văn B. Đến năm 2021, B nhận thêm việc gia công đồ trang sức làm từ vàng, bạc các loại và có nhận được nhiều sản phẩm là nanh, móng động vật từ khách hàng giao để bọc vàng, bạc. Qua tìm hiểu, B biết được các sản phẩm nhận gia công trên có nguồn gốc từ động vật nguy cấp, quý, hiếm nên B đã sử dụng số thuê bao di động 0949.374.999 để đăng ký tài khoản trên mạng xã hội Z và Facebook mang tên “Vàng bạc Bảo B2’’ để tham gia vào các nhóm kín trên mạng xã hội (trong đó có các nhóm do C lập ra) chuyên chia sẻ thông tin buôn bán các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, nguy cấp, quý, hiếm, rồi B2 làm quen với nhiều người khác nhau trong các nhóm kín, ở các tỉnh thành (B2 không rõ nhân thân, lai lịch của những người này) để trao đổi buôn bán các sản phẩm động vật hoang dã kiếm lời. B2 vận chuyển các sản phẩm buôn bán qua dịch vụ bưu chính, giao hàng nhanh và xe khách chạy các tuyến liên tỉnh, thanh toán tiền qua sử dụng tài khoản ngân hàng số 5217236999999 do B2 đăng ký tại Ngân hàng N1 chi nhánh B4. Quá trình buôn bán, B2 đã nhiều lần mua các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã của C bằng cách đến nhà C để trao đổi buôn bán. Khoảng tháng 03/2023 (B2 không nhớ ngày cụ thể), khi B2 tham gia trong nhóm kín trên mạng xã hội thấy C đăng bài bán xả lỗ móng loài Sư tử nên B2 đã hai lần đến nhà C để mua móng loài Sư tử (B2 mua của C một móng loài Sư tử với giá 500.000 đồng thanh toán tiền mặt và 10 móng Sư tử chưa thanh toán tiền, mang về nhà bọc Vàng số móng trên rồi bán cho một người quen biết trên mạng xã hội không rõ lai lịch ở tỉnh Kon Tum, đến ngày 07/4/2023 B2 chuyển khoản 15.000.000 đồng trả tiền mua 10 móng Sư tử cho C). Đối với số tang vật mà B2 bị Phòng C4 Công an tỉnh Đ tạm giữ vào ngày 20/4/2023, trong 04 móng loài Sư tử bị tạm giữ thì có 01 móng mua của C chưa kịp tiêu thụ, còn 03 móng loài sư tử còn lại và 01 răng nanh loài Báo gấm thì B2 mua của người khác quen biết trên mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) để về bọc kim loại vàng bán kiếm lời.

Tại Công văn số 134 ngày 04/5/2023 của Phòng an ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng Công nghệ cao (PA05) Công an tỉnh Đ, trả lời đã tiến hành trích xuất 260GB dữ liệu hình ảnh, video, tin nhắn liên quan đến vụ việc trong 06 thiết bị di động của các đối tượng. Đồng thời tiến hành bàn giao dữ liệu điện tử (được lưu trong một ổ cứng).

Tại Kết luận giám định động vật số 840/STTNSV ngày 05/06/2023 của V1 thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và V1, xác định:

Xác định tên loài cho mẫu vật

1) 02 (hai) vật có hình dạng nanh động vật do Phan Mạnh H vận chuyển vào ngày 20/4/2023 là răng nanh loài lợn có tên khoa học Sus scrofa.

2) 01 (một) vật có hình dạng móng động vật do Phan Mạnh H tự nguyện giao nộp vào ngày 21/4/2023 là móng loài Báo lửa, tên khoa học Catopuma temminckii

3) Đối với 51 (Năm mươi mốt) sản phẩm nghi của động vật hoang dã đã được phát hiện thu giữ tại ngôi nhà địa chỉ số A B, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 20/4/2023 (Bản kê lâm sản của Lê Văn B) gồm:

+ 21 (hai mươi mốt) vật có hình dạng nhẫn là được làm từ nhựa.

+ 04 (bốn) vật có hình dạng móng động vật là móng động vật. Kết quả phân tích AND của 01 (một) mẫu móng lấy ngẫu nhiên là móng loài Sư tử, tên khoa học P2;

+ 04 (bốn) vật có hình dạng nanh động vật gồm: 03 (ba) vật được làm từ nhựa và 01 (một) vật là răng nanh động vật. Kết quả phân tích AND mẫu răng nanh động vật là răng nanh loài Báo gấm có tên khoa học Neofelis neblosa.

+ 22 (hai mươi hai) vật gồm: 18 (mười tám) vật có hình dạng chuỗi hạt và 04 (bốn) vật có hình vòng đeo tay tròn trơn là được làm từ nhựa

4) 333 (ba trăm ba mươi ba) sản phẩm nghi của động vật hoang dã được phát hiện, thu giữ tại chỗ ở của Đặng Văn C thuộc tổ dân phố G, phường K, TP B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 20/4/2023 (Bản kê sản phẩm của Đặng Văn C) gồm:

+ 07 (bảy) vật dạng móng động vật (túi số 1) là móng động vật. Kết quả phân tích ADN của 02 (hai) mẫu lấy ngẫu nhiên là móng của loài Sư tử có tên khoa học P1 leo.

+ 06 (sáu) vật dạng móng động vật (túi số 2) là móng động vật. Kết quả phân tích ADN của 01 (một) mẫu lấy ngẫu nhiên là móng loài Gấu ngựa có tên khoa học Ursus thibetanus.

+ 15 (mười lăm) vật dạng nanh động vật (túi số 3) là răng loài Chó có tên khoa học Canis familiaris.

+ 01 (một) vật dạng nanh động vật (túi số 4) là răng nanh loài Lợn có tên khoa học Sus scrofa.

+ 01 (một) vật dạng nanh động vật (túi số 4) là được làm từ nhựa.

+ 01 (một) vật dạng nanh động vật (túi số 4) là được làm từ nhựa.

+ 01 (một) vật có dạng nanh động vật (túi số 4) là được làm từ nhựa.

+ 100 vật dạng lông động vật (túi số 5) là được làm từ nhựa.

+ 07 vật có dạng hình vòng (túi số 6) là được làm từ nhựa.

+ 15 (mười lăm) vật có dạng túi mật động vật (túi số 7), kết quả phân tích ADN của 02 (hai) mẫu lấy ngẫu nhiên ký hiệu 7a và 7b cho kết quả: mẫu 7a là loài Bò có tên khoa học Bos taurus, mẫu 7b là loài Trâu có tên khoa học Bubalus bubalis

+ 109 vật có dạng móng động vật (túi số 8) là móng động vật. Kết quả phân tích ADN của 03 (ba) mẫu lấy ngẫu nhiên là móng loài Gấu ngựa có tên khoa học Ursus thibetanus.

+ 70 vật có dạng móng động vật (túi số 9) là được làm từ sừng loài Bò có tên khoa học Bos taurus.

Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật

1) Loài Gấu ngựa có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Gấu ngựa có tên trong nhóm nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

2) Loài Báo gấm có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Báo gấm có tên trong nhóm nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

3) Loài Báo lửa có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Báo lửa có tên trong nhóm nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

4) Loài Sư tử có tên trong Phụ lục II, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan thẩm quyền quản lý C6.

5) Các loài Chó, L1, B1, T1 là loài động vật thông thường, không có tên trong các phụ lục loài cần được bảo tồn thuộc các nghị định của Chính phủ.

H3 lại đối tượng giám định cho Cơ quan trưng cầu giám định: Toàn bộ mẫu sản phẩm động vật sau giám định.

Tại Công văn số 178 ngày 20/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ trả lời qua nghiên cứu, sử dụng thiết bị chuyên dụng kết quả tìm thấy 196 tập tin Video trong đầu ghi camera nêu trên, được lưu trong 01 ổ cứng nhãn hiệu nhãn hiệu SEAGATE, số SN: W9A8YXBF màu đen dung lượng 1TB.

Tại Kết luận giám định số 1333 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định số khung, số máy xe mô tô mang mang biển số 47M1-079.39 không thay đổi.

Tại Công văn số 1844/TTTNSV ngày 31/10/2023 của V1 sinh vật thuộc V1 về việc từ chối giám định bổ sung đối với số mẫu vật đã được giám định tại kết luận giám định động vật số 860 ngày 05/06/2023 của V1. Tuy nhiên tại Quyết định số 4519 ngày 22/11/2022 của Bộ N3 về việc chỉ định bổ sung cơ quan khoa học C6 có chức năng giám định động vật gồm các cơ quan: Viện Sinh thái học miền N; V2; B5.

Tại Công văn phúc đáp số 11 ngày 26/02/2024 của Viện sinh thái học miền N về việc phối hợp thực hiện trưng cầu giám định theo Công văn số 223/CV-CSKT ngày 15/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nên ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định trưng cầu giám định Viện sinh thái học miền N giám định các mẫu vật còn lại trong vụ án để xác định loài và tình trạng bảo tồn.

Tại Bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực động vật số 07-2024/KL/STHMN ngày 08/5/2024 của Viện sinh thái học miền N, kết luận có nội dung:

- 13 (mười ba) vật có dạng túi mật động vật là túi mật động vật. Các mẫu được phân tích ADN đều cùng thuộc một loài động vật, là loài Bò nhà (Bò nhà là động vật nuôi, thuộc lớp thú (M), Bộ M ngón chẵn (A), Họ Trâu bò (Bovidae); Tên khoa học: Bos Taurus; Tên phổ thông: Bò nhà; Bộ phận được trưng cầu giám định là bộ phận cơ thể không thể tách rời khỏi sự sống của động vật; Sách đỏ Việt Nam: Không; Nghị định số 84/2021/NĐ-CP: Không; Nghị định 64/2019/NĐ-CP: Không; Công ước CITES: Không (tương ứng với tang vật tạm giữ ban đầu của bị cáo Đặng Văn C là các vật có dạng túi mật động vật niêm phong trong túi số 7)

- 05 (năm) vật có dạng móng động vật (túi số 1) là móng động vật, Cơ quan giám định không thu được vật liệu di truyền từ mẫu vật và vì vậy không thể phân tích, giám định ADN để xác định loài động vật. Cơ quan giám định không thể xác định kết luận về nguồn gốc sinh vật của mẫu vật nêu trên. Móng động vật là bộ phận quan trọng của cá thể động vật và có thể tách rời khỏi sự sống của động vật. Tuy nhiên, việc tách rời móng động vật ra khỏi cơ thể động vật sẽ làm suy giảm khả năng sinh sống của loài động vật (tương ứng với tang vật tạm giữ ban đầu của bị cáo Đặng Văn C là các vật dạng móng động vật niêm phong trong túi số 1).

- 06 (sáu) vật có dạng móng động vật (túi số 2) là móng động vật. Cơ quan giám định không thể xác định được nguồn gốc loài động vật đối với 06 (sáu) mẫu vật là sản phẩm, bộ phận từ động vật do mẫu vật đã bị nhiễm khuẩn và đang trong tình trạng vật liệu di truyền (ADN) bị phân hủy nên không thể li trích, tách chiết, và giải trình tự gene để xác định loài. Móng động vật là bộ phận quan trọng của cá thể động vật và có thể tách rời khỏi sự sống của động vật. Tuy nhiên, việc tách rời móng động vật ra khỏi cơ thể động vật sẽ làm suy giảm khả năng sinh sống của loài động vật (tương ứng với tang vật tạm giữ ban đầu của Đặng Văn C là các vật dạng móng động vật niêm phong trong túi số 2).

- 107 (một trăm lẻ bảy) vật có dạng móng động vật (túi số 8) là móng động vật. Các mẫu vật có sự tương đồng về đặc điểm màu sắc, hình thái bên ngoài. Với kết quả phân tích ADN, cho thấy các mẫu vật là sản phẩm của loài Gấu ngựa, tên khoa học Ursusthibetanus; Gấu ngựa là loài động vật hoang dã, thuộc lớp thú (M), Bộ T2 ăn thịt (C7), Họ gấu (Ursidae); Tên khoa học: Ursusthibetanus; Tên phổ thông: Gấu ngựa; Bộ phận được trưng cầu giám định là bộ phận cơ thể, có thể tách rời khỏi sự sống của động vật, nhưng về lâu dài sẽ làm giảm khả năng sinh sống của cá thể động vật; Sách đỏ Việt Nam: EN – Nguy cấp; Nghị định số 84/2021/NĐ-CP: Phụ lục IB; Nghị định 64/2019/NĐ-CP: Phụ lục 1; Công ước CITES: Phụ lục I (tương ứng với tang vật tạm giữ ban đầu của bị cáo Đặng Văn C là các vật dạng móng động vật niêm phong trong túi số 8)

- 03 (ba) vật có hình dạng móng động vật là móng động vật. Mẫu vật đã qua xử lý, không còn vật liệu di truyền. Cơ quan giám định không thể xác định kết luận về nguồn gốc sinh vật của mẫu vật(tương ứng với tang vật tạm giữ ban đầu của bị cáo Lê Văn B gồm04 (bốn) vật có hình dạng móng động vật, bọc kim loại màu vàng; 04 (bốn) vật có hình dạng nanh động vật, trong đó có 01 (một) nanh động vật một đầu bọc kim loại màu vàng đựng trong túi ni lông có dán giấy niêm phong có chữ ký Lê Văn B)

Đối với phần kim loài màu vàng bóc tách từ: 01 răng nanh loài Báo gấm, 01 móng loài Sư tử và 03 móng động vật tạm giữ của bị cáo Lê Văn B và 01 móng loài Báo lửa tạm giữ của bị cáo Phan Mạnh H gồm: 05 (năm) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại vàng, 04 (bốn) đoạn kim loại màu vàng hình dạng móc câu (đựng trong các túi ni lông ghi Lê Văn B, đánh số thứ tự từ 1 đến 5); 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng, 01 (một) đoạn kim loại màu vàng hình dạng móc câu (đựng trong túi ni lông ghi Phan Mạnh H).

Tại kết quả giám định ngày 09/5/2024 của Công ty cổ phần V3 - Chi nhánh P3 sau khi tiến hành giám định kết luận:

- 05 (năm) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng, 04 đoạn màu vàng hình dạng móc câu của Lê văn B. Là kim loại vàng, trong đó:

+ 01 (một) vật có gắn móc treo là kim loại vàng và 01 (một)đoạn kim loại vàng dạng móc câu có hàm lượng vàng 33,22%, trọng lượng thực tế 1,28 chỉ. Tương đương tuổi vàng 8k (đựng trong túi ni lông ghi Lê Văn B đánh số thứ tự 1, KLM- Vàng bọc 01 móng Sư tử)

+ 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng và 01 (một)đoạn kim loại màu vàng dạng móc câu có hàm lượng vàng 35,88%, trọng lượng thực tế 0,65 chỉ. Tương đương tuổi vàng 8k (đựng trong túi ni lông ghi Lê Văn B đánh số thứ tự 2, KLM- Vàng bọc móng động vật)

+ 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng và 01 (một)đoạn kim loại màu vàng dạng móc câu có hàm lượng vàng 33,82%, trọng lượng thực tế 1,05 chỉ. Tương đương tuổi vàng 8k. (đựng trong túi ni lông ghi Lê Văn B đánh số thứ tự 3, KLM- Vàng bọc móng động vật)

+ 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng và 01 (một) đoạn kim loại màu vàng dạng móc câu có hàm lượng vàng 41,75%, trọng lượng thực tế 1,53 chỉ. Tương đương tuổi vàng 10k (đựng trong túi ni lông ghi Lê Văn B đánh số thứ tự 4, KLM- Vàng bọc móng động vật)

+ 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng có hàm lượng vàng 34,03%, trọng lượng thực tế 0,52 chỉ. Tương đương tuổi vàng 8k (đựng trong túi ni lông ghi Lê Văn B đánh số thứ tự 5, KLM- Vàng bọc nanh Báo)

- 01 (một) vật có gắn móc treo làm bằng kim loại màu vàng và 01 (một) đoạn kim loại màu vàng dạng móc câu là kim loại vàng, hàm lượng vàng 30,45%, trọng lượng thực tế là 0,42 chỉ, Tương đương tuổi vàng 8k (đựng trong túi ni lông ghi Phan Mạnh H KLM- Vàng bọc móng Báo).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn C phạm tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” . Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn B, Phan Mạnh H; quyết định lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2024, bị cáo Đặng Văn C kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định, cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Đặng Văn C 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù là phù hợp. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn C.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 03/10/2024, bị cáo Đặng Văn C nộp đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, do đó được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định về quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ, nên ngày 20/4/2023, tại địa chỉ tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Đặng Văn C có hành vi bán cho bị cáo Phan Mạnh H 01 móng loài Báo lửa, là sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Ngoài ra, Đặng Văn C còn có hành vi bán cho Lê Văn B 10 móng loài Sư tử vào cuối tháng 03/2023 và cất giấu 111 móng loài Gấu ngựa là sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ để nhằm mục đích bán kiếm lời.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự là đủ căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mức hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Đặng Văn C là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo Đặng Văn C là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn C mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn C, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[3] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đặng Văn C được miễn án phí Hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ