vanban.org

Bản án 245/2024/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản tiền là 43.927.585 (Bốn mươi ba triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm tám mươi lăm) đồng cho Công ty WC ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2024, ông Nguyễn Thanh H vẫn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán hết nợ c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/DSST
Ngày: 22/5/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Tý.

2/ Bà Bùi Diệu Huệ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: ông Trần Quang Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLST-DS ngày 10/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định xét xử số 111/2024/QĐXXST-DS ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-DS ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty WC; địa chỉ: đường ĐBP, phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn T, ông Ngô Vĩnh Ng, ông Nguyễn Ý Q. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1996; địa chỉ: đường A, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/10/2023, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 14/12/2023, lời khai trong quá trình giải quyết, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, ông Nguyễn Thanh H và Công ty MRE (sau đây gọi là Công ty MRE) đã ký hợp đồng tín dụng số 2113754 để vay số tiền là 31.650.000 đồng. Trong đó, 30.000.000 đồng Công ty MRE đã giải ngân cho ông Nguyễn Thanh H, còn số tiền 1.650.000 đồng ông Nguyễn Thanh H mua bảo hiểm khoản vay tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Opes. Thời gian vay tính từ ngày giải ngân đến 01 tháng 4 năm 2023, lãi suất trong hạn theo hợp đồng tín dụng là 45%/năm (3.75%/tháng). Ngày thanh toán là ngày 01 (một) hàng tháng, số tiền trả hàng tháng là 2.036.057 đồng, tiền lãi chậm trả là 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365). Trong đó, lãi suất chậm trả là 10%/năm hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của Công ty MRE theo từng thời điểm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thanh H đã thanh toán được số tiền gốc là 2.196.710 đồng và tiền lãi 3.919.359 đồng.

Kể từ ngày 06 tháng 7 năm 2021, ông Nguyễn Thanh H đã không thanh toán mặc dù Công ty MRE đã nhắc nợ nhiều lần.

Ngày 20 thàng 6 năm 2022, Công ty WC (gọi tắt là Công ty WC) mua nợ của Công ty MRE theo hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, Công ty MRE đã Thông báo xử lý dư nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng số 8143/2022/Welcome/TB-BP.TNH đến ông Nguyễn Thanh H về thông tin chuyển quyền sở hữu khoản dư nợ cho Công ty WC.

Sau khi mua lại khoản nợ, Công ty WC đã tiến hành khởi kiện cũng như liên lạc để yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Thanh H thanh toán tiền nợ. Ngày 19/3/2024 và ngày 15/4/2024 ông Nguyễn Thanh H đã thanh toán được 22.000.000 đồng tiền vốn gốc. Hiện tại ông Nguyễn Thanh H còn nợ lại tiền vốn gốc là 7.453.290 đồng, tiền lãi trong hạn là 980.684 đồng, tiền lãi quá hạn là 35.493.611 đồng.

Nay Công ty WC đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị đơn là ông Nguyễn Thanh H phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 43.927.585 đồng và tiếp tục trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền gốc 22.000.000 đồng và tiền lãi phạt chậm trả bên nguyên đơn xin rút lại yêu cầu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, ông Nguyễn Thanh H và Công ty MRE (sau đây gọi là Công ty MRE) đã ký hợp đồng tín dụng số 2113754 để vay số tiền là 31.650.000 đồng. Trong đó, 30.000.000 đồng Công ty MRE đã giải ngân cho ông Nguyễn Thanh H, còn số tiền 1.650.000 đồng ông Nguyễn Thanh H mua bảo hiểm khoản vay tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Opes. Thời gian vay tính từ ngày giải ngân đến 01 tháng 4 năm 2023, lãi suất trong hạn theo hợp đồng tín dụng là 45%/năm (3.75%/tháng). Ngày thanh toán là ngày 01 (một) hàng tháng, số tiền trả hàng tháng là 2.036.057 đồng, tiền lãi chậm trả là 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365). Trong đó, lãi suất chậm trả là 10%/năm hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của Công ty MRE theo từng thời điểm.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, Công ty MRE và Công ty WC đã ký hợp đồng số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME về việc chuyển nhượng các khoản phải thu trong đó có khoản nợ của ông Nguyễn Thanh H. Cùng ngày Công ty MRE đã Thông báo xử lý dư nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng số 610/2022/Welcome/TB-BP.TNH đến ông Nguyễn Thanh H về thông tin chuyển quyền sở hữu khoản dư nợ cho Công ty WC.

Xét Hợp đồng mua bán nợ số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME giữa Công ty MRE và Công ty WC là phù hợp quy định tại Điều 450 BLDS, do đó Công ty WC có quyền khởi kiện ông Nguyễn Thanh H để yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản nợ khoản tiền 43.927.585 đồng tính đến ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Công ty WC là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền gốc 22.000.000 đồng và tiền lãi phạt chậm trả bên nguyên đơn xin rút lại yêu cầu trên, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu trên của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, ông Nguyễn Thanh H và Công ty MRE đã ký hợp đồng tín dụng số 2113754. Sau đó, ngày 20 tháng 6 năm 2022 Công ty WC mua nợ của Công ty MRE theo hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME và chuyển giao toàn bộ quyền yêu cầu đòi nợ bao gồm cả quyền khởi kiện đòi nợ tại Tòa án. Theo quy định tại Điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Công ty WC có quyền khởi kiện với ông Nguyễn Thanh H để buộc trả khoản nợ mà bên nguyên đơn đã mua.

Ông Nguyễn Thanh H có địa chỉ tại: đường A, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Xét yêu cầu của đương sự:

Theo đơn khởi kiện thì bên phía nguyên đơn là Công ty WC đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc ban đầu là 29.453.290 đồng và tiền lãi, tuy nhiên ông Nguyễn Thanh H đã thanh toán một phần tiền gốc là 22.000.000 đồng nên phía nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu với số tiền gốc là 22.000.000 đồng đó Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu trả tiền gốc là 22.000.000 đồng. Đối với số tiền gốc còn lại bị đơn chưa thanh toàn là 7.453.290 đồng do đó cần buộc bị đơn phải trả số tiền trên cho bên phía nguyên đơn.

Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền lãi gồm các khoản của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy vào ngày 02/8/2021 thì bên phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bên phía bị đơn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả và phí phạt như hợp đồng hai bên đã ký. Tuy nhiên bên phía nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền 29.453.290 đồng với mức lãi suất là 45%:

“1” Số tiền lãi và phạt trên số tiền gốc là 29.453.290 đồng được tính từ thời gian từ ngày 02/8/2021 đến ngày 19/3/2024 với mức lãi suất là:

(29.453.290 đồng X 45%/1 năm(356 ngày) X 960 ngày) = 34.859.784 đồng.

“2” Lãi phạt của số tiền 9.453.290 đồng từ ngày 19/3/2024 đến ngày 15/4/2024 là:

9.453.290 đồng X 45%/1 năm(356 ngày) X 26 ngày = 303.023 đồng.

“3” Lãi phạt của số tiền 7.453.290 đồng từ ngày 15/4/2024 đến ngày 22/5/2024 là:

7.453.290 đồng X 45%/1 năm(356 ngày) X 36 ngày = 330.804 đồng.

Tổng cộng bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là:

Tiền gốc còn nợ + tiền lãi trong hạn + tiền lãi quá hạn (“1” + “2” + “3”)

7.453.290 đồng + 980.684 đồng + 34.859.784 đồng + 303.023 đồng + 330.804 đồng = 43.927.585 đồng.

Đình chỉ yêu cầu đối với số tiền gốc là 22.000.000 đồng và lãi phạt chậm trả mà bên nguyên đơn buộc bị đơn phải trả.

Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải tiếp tục trả lãi cho khoản vay chưa trả, Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu chính đáng vì vậy cần chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

3. Về án phí:

Do ông Nguyễn Thanh Hùy phải trả khoản tiền là 43.927.585 đồng cho Công ty WC nên ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí có giá ngạch là 2.196.379 (Hai triệu một trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi chín) đồng.

Hoàn lại cho Công ty WC số tiền tạm ứng án phí là 1.692.716 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0027226 ngày 07/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 217, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản tiền là 43.927.585 (Bốn mươi ba triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm tám mươi lăm) đồng cho Công ty WC ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2024, ông Nguyễn Thanh H vẫn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty WC theo hợp đồng tín dụng số 2113754 ngày 18 tháng 3 năm 2021, ông Nguyễn Thanh H và Công ty MRE cho đến khi trả hết nợ.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản tiền 22.000.000 đồng và tiền lãi phạt chậm trả.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản tiền là 43.927.585 đồng cho Công ty WC nên ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí có giá ngạch là 2.196.379 (Hai triệu một trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi chín) đồng.

Hoàn lại cho Công ty WC số tiền tạm ứng án phí là 1.692.716 (Một triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm mười sáu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0027226 ngày 07/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Số tiền trên được thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ