vanban.org

Bản án 245/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1- Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 02 (Hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2023/HS-ST.
Ngày: 08/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Văn Huynh.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại Trung Tâm Văn Hóa xã Bình Sơn, huyện Long Thành. Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 256/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Chí T, sinh năm: 1987 tại tỉnh Đồng N. Nơi đăng ký thường trú: Ấp 4, xã Tam A, huyện Long T, tỉnh Đồng N; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn) 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị S; vợ: Nguyễn Thị Hương T (không còn sống chung) và 01 con sinh năm 2007; chung sống với chị Lê Hồng P (không có đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 27/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2009, bị cáo chưa thi hành phần bồi thường dân sự (Bản án số: 258/2008/HSST); Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 14/8/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chí T là người nghiện ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 12/8/2023, T đi bộ đến khu vực Rẫy Thơm thuộc ấp 5, xã Tam A, huyện Long T, tỉnh Đồng N gặp tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.000.000 đồng ma túy để trong 01 túi ny long kích thước 08 x 04 cm rồi mang về phòng trọ tại ấp 4, xã Tam A, huyện Long T. T lấy ma túy sử dụng một ít, số còn lại T cho vào 05 đoạn ống hút nhựa, hàn kín hai đầu đem giấu trong đường ống thoát nước trong nhà tắm. Đến 08 giờ ngày 14/8/2023, lực lượng Công an xã Tam A kiểm tra hành chính phòng trọ của T thì phát hiện trên bàn và đường ống thoát nước trong nhà tắm có ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập hồ sơ chuyển Công an huyện Long Thành xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số: 1811/KL-KTHS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1238 gam, loại: Methamphetamine.

+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5001 gam, loại: Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 233/CT-VKSLT ngày 10 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T mức án từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T đã khai nhận. Vào khoảng 08 giờ ngày 14/8/2023, tại phòng trọ thuộc ấp 4, xã Tam A, huyện Long T, tỉnh Đồng N bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an xã Tam A, huyện Long T kiểm tra bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu cùng các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Chí T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, mức án bị cáo nhận lãnh phải thật nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với phần trình bày của bị cáo Nguyễn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.

Đối với tên C, có hành vi bán ma túy cho T. Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.

Biện pháp tư pháp:

Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 1811/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

(Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2023).

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1- Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 14/8/2023.

Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 1811/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

(Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2023).

2- Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Chí T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ