vanban.org

Bản án 245/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 245/2018/HS-PT
Ngày: 15-6-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Các"Thẩm"phán:" 1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Bình"

2/ Bà Quách Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15/6/2018 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 201/2018/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T. do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 04/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:"

Nguyễn!Thanh!T.;!sinh năm 1992 tại Kiên Giang; Thường trú: ấp Y, xã Z, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Sơn nước; Trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành Đ. và bà Thị B.; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 13/9/2017 (Có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T. là anh ruột của Nguyễn Thanh Ng., cả hai cùng làm thuê nghề sơn nước. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/6/2017, Ng. nghĩ T. đang giữ số tiền công 350.000 đồng mà chủ thầu đã trả cho Ng. nên Ngân đi cùng với Nguyễn Tuấn Kh. đến phòng trọ của T. tại nhà không số, Tổ X2, ấp Y2, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để đòi tiền. Đến nơi, T. nói chủ thầu không đưa tiền cho T. nhưng Ng. nghĩ T. đã xài hết số tiền trên nên cả hai xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau bằng tay tại phía trước nhà trọ. Kh. thấy vậy nên xông vào xô T. ra. Lúc này, T. tức giận nên chạy vào phòng trọ lấy 01 con dao dài khoảng 32,5cm chạy ra đứng đối diện với Kh. rồi dùng tay phải kẹp cổ Kh. kéo vào người, tay trái T. cầm dao đâm một nhát vào vùng lưng phía bên phải của Kh. Sau đó, T. quăng con dao tại trước cửa phòng trọ rồi chạy vào nhà, còn Kh. được Ng. đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 115. Đến ngày 27/6/2017, bà Lê Thị Ngọc G. (vợ của Kh.) đến trình báo công an xã Vĩnh Lộc B lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 637/TgT.17 ngày 02/8/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định Nguyễn Tuấn Kh. bị thương tích như sau: “Một vết thương lưng phải, thấu ngực gây tràn máu màng phổi phải, đã được phẫu thuật dẫn lưu màng phổi hiện còn: Một sẹo đâm kích thước 3x1,1 cm tại vùng lưng; một sẹo dẫn lưu kích thước 3,4x2,2cm tại liên sườn 5 đường nách trước phải; hình ảnh gãy xương sườn 9 bên phải ngay dưới vết thương, tràn dịch màng phổi phải, dập xẹp thùy dưới phổi phải trên phim MSCT chụp ngực; có hạn chế chức năng hô hấp. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 42%. Thương tích do vật sắc nhọn gây ra. Con dao như quý cơ quan cung cấp gây ra được thương tích này” Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 04/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T. phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T. 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2017. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/4/2018, bị cáo T. kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T. khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai người bị hại, kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xét đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận vào ngày 25/6/2017 bị cáo T. đã dùng 01 con dao dài khoảng 32,5 cm đâm 01 nhát trúng vào lưng phải của người bị hại Nguyễn Tuấn Kh., gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tích là 42%.

[2] Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo T., xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường và người bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Mặt khác, bản án sơ thẩm đã xem xét áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và áp dụng hình phạt theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù là thỏa đáng.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T. kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng không trình bày thêm được tình tiết gì mới. Mặt khác, bản án sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xét tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nghĩ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên, !

QUYẾT!ĐỊNH:!

! Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ!luật Tố tụng hình sự năm 2015. 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T. phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T. 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2017. 2. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ