vanban.org

Bản án 244/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Thắng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên phạt: Bị cáo Lữ Thắng L 16 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kế 08/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Thắng L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2025/HS-PT
Ngày 10 tháng 9 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán:

ông Hà Huy Cầu

bà Lê Thị Tuyết Trinh

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 150/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Lữ Thắng L (tên gọi khác: 4 Đía). Do có kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L (tên gọi khác: 4 Đía) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2025/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lữ Thắng L (tên gọi khác: 4 Đía), sinh ngày 11 tháng 12 năm 2002 tại tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là: xã T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn T (đã chết) và bà Phan Thị Đ; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 08/01/2025, sau đó chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Thắng L: Luật sư Nguyễn Thanh Bảo D – Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 00 ngày 11/9/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm ma tủy Công an tỉnh C tuần tra, phát hiện Huỳnh Bá N đang dừng xe máy tại vực bến đỗ của xe khách đường L, thuộc Khóm B, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trong cốp xe máy của N có cất giấu 01 bọc nilon màu trắng có hoa văn, trên bọc có viết chữ “Bến xe C, người nhận: Bé T1 0815387776; Người gửi: Phong 0399913049”. Kiểm tra bên trong có 01 loa nghe nhạc màu đen, bên trong loa phát hiện 04 bọc nilon màu trắng, cụ thể: bọc nilon thứ nhất có chứa 60 viên nén màu xám; bọc nilon thứ hai có chứa 56 viên nén màu vàng; bọc nilon thứ ba có chứa 24 viên nén màu vàng; bọc nilon thứ tư có chứa chất tinh thể màu trắng (tất cả đều nghi là ma túy). Qua làm việc N khai nhận là ma túy được đặt mua của Nguyễn Đoàn Đông P ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) vừa đi nhận về để bán lại cho Lữ Thắng L thì lực lượng Công an bắt quả tang.

Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 17/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:

+ 60 viên nén màu xám bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong, ký hiệu M.27/2023 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 27,2126 gam;

+ 56 viên nén màu vàng bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong, ký hiệu M.27/2023 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 22,2821 gam;

+ 24 viên nén màu vàng bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong, ký hiệu M.27/2023 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng là 9,5317 gam;

+ Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ký hiệu M.27/2023 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 40,0545 gam;

Tổng khối lượng 02 loại chất ma túy là 99,0809 gam; trong đó: MDMA gồm 140 viên, khối lượng 59,0264 gam; 01 bọc Ketamine có khối lượng 40,0545 gam.

Kết quả điều tra xác định: Huỳnh Bá N đã bán ma túy cho Lữ Thắng L 02 lần cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 04/9/2023, Lữ Thắng L dùng tài khoản Facebook gọi cho N mua 50gam ma túy khay và 100 viên thuốc lắc. Lúc này, N đang có mặt tại nhà của Nguyễn Đoàn Đông P ở Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ địa chỉ cụ thể). N mua của P 50gam ma túy khay giá 29.000.000đ, 100 viên thuốc lắc giá 18.000.000đ; bán lại cho L 50gam ma túy khay giá 33.000.000đ, 100 viên thuốc lắc giá 20.000.000đ và L đã chuyển khoản cho N số tiền 53.000.000đ. Sáng ngày 07/9/2023, P gửi ma túy qua xe khách “Phương T2”, biết được P đã gửi ma tuý về Cà Mau nên N báo cho L biết. Rạng sáng ngày 08/9/2023, L trực tiếp đến nhà xe “Phương T2” tại bến xe C nhận số ma túy trên. Số ma túy này, L đã mang về phân nhỏ, bán cho các đối tượng nghiện; giá bán 250.000đ/viên thuốc lắc, 4.000.000đ/hộp ma tuý khay (5gam).

Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 08/9/2023, L dùng tài khoản Facebook gọi cho N mua 50gam ma túy khay giá 33.000.000đ và 100 viên thuốc lắc giá 20.000.000đ. Sau đó, N liên hệ vào zalo cho Nguyễn Đoàn Đông P mua 50gam ma túy khay và 100 viên thuốc lắc, tổng số tiền 47.000.000đ. Sáng ngày 09/9/2023, L dùng tài khoản số 105879195822 (Ngân hàng V) tên “Trần Phát N1” chuyển cho N số tiền 53.000.000đ, qua tài khoản 0919118800 (Ngân hàng O) tên “Huỳnh Bá N” và L mua thêm 50 viên thuốc lắc giá 10.000.000đ và đã chuyển tiền cho N. N chuyển số tiền 56.000.000đ cho P qua tài khoản số 789456788 (Ngân hàng thương mại cổ phần Á) tên “Nguyễn Đoàn Đông P” để trả tiền 50gam ma túy khay và 150 viên thuốc lắc.

Đến chiều ngày 10/9/2023, nhận được thông tin P đã gửi ma túy qua dịch vụ xe khách “Thảo Vy” nên N báo cho L. Đến khoảng 09 giờ ngày 11/9/2023, N điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 69C1 – 409.02 đến địa điểm trên để nhận gói hàng chứa ma túy, chưa kịp đi giao cho L thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. (Khi bắt quả tang kiểm tra thì số ma túy khay và thuốc lắc không đủ như số lượng L đã đặt mua ban đầu, N khai do P gửi không đủ số lượng ma túy như thỏa thuận).

Ngoài hai lần mua ma túy của Huỳnh Bá N, L còn mua ma túy của người thanh niên tên “Cần” ở thành phố C (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể) vào khoảng thời gian tháng 7/2023, số lượng 10 viên thuốc lắc và một hộp ma túy khay (khoảng 5gam), tổng số tiền 6.200.000đ. Số ma túy này, L đã bán cho các đối tượng nghiện; giá bán 250.000đ/viên thuốc lắc, 4.000.000đ/hộp ma tuý khay (5gam).

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Huỳnh Bá N đã được xử lý tại Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau còn Lữ Thăng L1 đã bỏ trốn. Đến ngày 08/01/2025, đến đầu thú tại Cơ quan Công an tỉnh C,

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lữ Thắng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Tuyên phạt: Bị cáo Lữ Thắng L 16 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kế 08/01/2025.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 21/7/2025, bị cáo Lữ Thắng L có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về hình thức đúng quy định pháp luật, về thời gian đúng thời gian quy định nên đơn kháng cáo hợp lệ.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo Lữ Thắng L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng số lượng khi bắt quả tang là 99,0809 gam; trong đó 59,0264 gam MDMA; 40,0545 gam Ketamine. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đã tuyên xử bị cáo 16 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi mà bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn Thanh Bảo D bào chữa cho bị cáo Lữ Thắng L trình bày: Vấn đề mua bán trái phép chất ma túy thực sự trong vụ án này bị cáo là người tự đến đầu thú, khối lượng ma túy bị cáo chịu trách nhiệm là 99,0809 gam do truy xét, tất cả là bán lại, lần đầu là từ Huỳnh Bá N, lần sau là từ Cần và tất cả những khối lượng đó là bắt từ tay đối tượng Huỳnh Bá N và bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Trong vụ án này bị cáo đã tự đến để đầu thú và bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét thấy cần áp dụng cho bị cáo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, tất cả khối lượng ma túy đều do lời khai cũng như truy xét. Ngoài ra, gia đình bị cáo khó khăn, cha chết, mẹ không ai chăm sóc, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bị cáo đã ra đầu thú do đó cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lữ Thắng L.

Bị cáo Lữ Thắng L trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để về phụng dưỡng mẹ của bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về phụng dưỡng mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư và của bị cáo.

Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lữ Thắng L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, căn cứ vào các lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở xác định:

Ngày 04/9/2023, Lữ Thắng L mua của Huỳnh Bá N 50gam ma túy khay và 100 viên thuốc lắc với số tiền 53.000.000đ. Số ma túy này, L mang về phân nhỏ, bán cho các đối tượng nghiện.

Ngày 08/9/2023, Lữ Thắng L tiếp tục mua của Huỳnh Bá N 50gam ma túy khay và 150 viên thuốc lắc với tổng số tiền 63.000.000đ. L đã chuyển khoản cho N 63.000.000đ. Đến khoảng 09 giờ ngày 11/9/2023, N điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 69C1 – 409.02 đi nhận gói hàng chứa ma túy để giao chi L, chưa kịp giao ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.

Kết quả giám định xác định tổng số khối lượng ma túy N đặt mua để bán cho N vào ngày bị bắt quả tang là 99,0809 gam, trong đó: 140 viên loại MDMA, khối lượng 59,0264 gam và 01 bọc Ketamine có khối lượng 40,0545 gam.

Ngoài ra, bị cáo L còn mua ma túy của người thanh niên tên “Cần” ở thành phố C (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể), vào khoảng thời gian tháng 7/2023, số lượng 10 viên thuốc lắc và một hộp năm (khoảng 5gam) ma túy khay về bán lại cho các đối tượng nghiện.

Mục đích của bị cáo L mua ma túy của N là để bán lại cho các đối tượng nghiện tại địa phương thu lợi nhuận và một ít để sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lữ Thắng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cấp sơ thẩm đã truy tố xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội, mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo biết rất rõ ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe con người, mà còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác; biết mình không được phép mua bán ma túy nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn bất chấp, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét cho bị cáo tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo như:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 02 lần mua ma túy của N, 01 lần mua ma túy của đối tượng tên C và nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện tại địa phương. Đây là tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã đầu thú tại cơ quan công an. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối chiếu tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây ra như trên nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt 16 năm tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do đó, không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với người tên “Cần”, đã bán ma túy cho Lữ Thắng L, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo có lời bào chữa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

Các nội dung khác của quyết định bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật để thi hành.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Thắng L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lữ Thắng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Tuyên phạt: Bị cáo Lữ Thắng L 16 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kế 08/01/2025.

2. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lữ Thắng L để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lữ Thắng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ