vanban.org

Bản án 244/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/09/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị T về việc thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Thái Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cấm. Về án phí: Chị Thái Thị T không phải chịu án phí hôn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị T về việc thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2025
V/v “Thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Năng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng; ông Nguyễn Thái Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2025 tại H i trư ng xét x Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét x công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 129/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07/5/2025 về việc “Tranh chấp về thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 233/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2025/QĐ-ST ngày 15/9/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Thị T; sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn xin xét x vắng mặt

- Bị đơn: Anh Tô Đình Q, sinh năm 1990; Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh; hiện đang XKLĐ tại CHLB Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Thái Thị T trình bày:

Chị Thái Thị T và anh Tô Đình Q kết hôn với nhau ngày 04/11/2011. Quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên năm 2020, chị Thái Thị T đã làm thủ tục xin ly hôn với anh Tô Đình Q. Tại Quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 35/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định: Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thái Thị T và anh Tô Đình Q. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho chị Thái Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng ly hôn được m t th i gian, chị T đi xuất khẩu lao đ ng nên đã g i con chung Tô Thái Quỳnh A cho mẹ đẻ anh Q là bà Cao Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó đến nay. Hiện tại, do điều kiện công việc và cu c sống chị T gặp nhiều khó khăn không đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu A, do đó, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong th i gian anh Q không có mặt tại Việt Nam, chị T thống nhất đề nghị mẹ đẻ anh Q là bà Cao Thị H; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A thay anh Q. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Tô Đình Q do đang xuất khẩu lao đ ng tại C ng hòa liên bang Đ, chị T không nắm rõ địa chỉ cụ thể của anh Q. Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh Q, nhưng gia đình anh Q cũng không nắm rõ được địa chỉ của anh Q ở C ng hòa liên bang Đ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện thủ tục đăng tin trên Đ Việt Nam theo quy định để thông báo cho anh Q biết các thông tin về vụ án cũng như th i gian làm việc. Song, đến nay, anh Q vẫn không có mặt để làm việc, trình bày quan điểm của mình tại Tòa án.

Bà Cao Thị H, mẹ đẻ anh Tô Đình Q đã có đơn tình nguyện nuôi cháu, theo đó, bà H khẳng định: Từ khi vợ chồng chị T, anh Q ly hôn đến nay, cháu Tô Thái Quỳnh A về sinh sống với bà, được bà chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo mọi điều kiện sinh sống, học tập đầy đủ. Nay, chị T đề nghị thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con, đề nghị giao cháu A cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, bà cam đoan sẽ chịu trách nhiệm nuôi dưỡng cháu A trong th i gian anh Q không có mặt tại Việt Nam và không yêu cầu các phí tổn nuôi cháu.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, H i thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 28, 37, 48, 49, 51, 196, 227, 469, 479 B luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp th i chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và đã có đầy đủ l i khai tại hồ sơ. Bị đơn cố tình che giấu địa chỉ là không thực hiện đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 70 BLTTDS.

- Về đư ng lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị H i đồng xét x :

Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 39, 147, 227, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479 B luật tố tụng dân sự; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/ NQ- HĐTP ngày 16/5/2024; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, x : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị T, x : Giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Thái Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cấm.

Về án phí: Chị Thái Thị T không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi ngươi trực tiếp nuôi con sau ly hôn; anh Tô Đình Q có đăng ký h khẩu thư ng trú tại Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Tại th i điểm thụ lý vụ án, anh Tô Đình Q đang xuất khẩu lao đ ng tại C ng hòa liên bang Đ, có xác nhận của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H Công văn số 599/QLXNC-Đ1 ngày 14/5/2025 nên việc Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điều 469 B luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án do điều kiện công việc, nên chị T yêu cầu được vắng mặt trong toàn b quá trình xét x . Đối với anh Tô Đình Q, chị T đã cung cấp đúng, đầy đủ nơi ĐKNKTT của anh Q trước khi xuất cảnh nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở nước ngoài. Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh Q, nhưng gia đình anh Q không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Q. HĐXX xác định đây thu c trư ng hợp cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 238 B luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 10 Nghị quyết 01/2024/ NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của H i đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét x vắng mặt chị Thái Thị T và anh Tô Đình Q theo thủ tục chung.

Về n i dung:

Tại Quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 35/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định về quyền nuôi con như sau: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho chị Thái Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, kể th i điểm ly hôn đến nay, cháu Tô Thái Quỳnh A vẫn sinh sống cùng bà n i là bà Cao Thị H. Mặt khác, hiện nay, chị T cũng đang đi lao đ ng ở nước ngoài, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình đối với cháu Tô Thái Quỳnh A. Quá trình giải quyết vụ án bà Cao Thị H- mẹ đẻ anh Q đã có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A thay anh Q trong th i gian anh Q không có mặt tại Việt Nam, bản thân cháu Quỳnh A cũng có nguyện vọng được ở cùng bố. Do đó, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị T về việc giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong th i gian anh Q không có mặt tại Việt Nam, mẹ đẻ anh Q là bà Cao Thị H; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A thay anh Q. Về cấp dưỡng nuôi con, hiện tại chị T đang khó khăn, bà H cũng không yêu cầu phí tổn nuôi cháu, anh Q hiện đang ở nước ngoài không có ý kiến gì, nên HĐXX chấp nhận không bu c chị T phải cấp dưỡng nuôi con và anh Q có thể yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn thành m t vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 39, 147, 227, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479 B luật tố tụng dân sự; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/ NQ- HĐTP ngày 16/5/2024; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, x :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị T về việc thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao con chung Tô Thái Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2012 cho anh Tô Đình Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Thái Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cấm.

2. Về án phí: Chị Thái Thị T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 180 B luật tố tụng dân sự, bu c chị Thái Thị T phải chịu 2.250.000đ tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Chị Thái Thị T đã n p đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ