- Tranh chấp gì? án hình sự — "cm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Vê tội danh: Tuyên bố bị cáo V A C và bị cáo V A M pham tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 244/2024/HS-ST Ngày 30/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Minh Long;
Ông Lương Văn Thoai.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đat – Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024 tai điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 239/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. V A C, sinh năm 1995; đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông V A D và con bà S T M; gia đình co 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; họ tên vợ: V T V, sinh năm 1996; bị cáo co 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/09/2024, tam giư tư ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024 chuyển tam giam. Hiện bị cáo đang bị tam giam tai tai Nhà tam giư, Công an huyện K. Bị cáo co mặt tai điểm cầu thành phần thuộc Trai tam giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.
Người bào chữa cho bị cáo V A C là: Ông Lê Quang Đao – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội, co mặt tai phiên tòa.
2. V A M, sinh năm 1997; đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản D, xã E, huyện F, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông V A D và con bà M T K; gia đình co 06 anh em, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/09/2024, tam giư tư ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024 chuyển tam giam. Hiện bị cáo đang bị tam giam tai tai Nhà tam giư, Công an huyện K. Bị cáo co mặt tai điểm cầu thành phần thuộc Trai tam giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.
Người bào chữa cho bị cáo V A C là: Ông Lê Quang Đao – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội, co mặt tai điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Người co quyên lơi, nghia vu liên quan: Anh Đ T T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số G H, thị trấn I, huyện K, thành phố Hà Nội, vắng mặt tai phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu co trong hồ sơ vu án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vu án đươc tom tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 30/9/2024, Tổ công tác Công an thị trấn I phối hợp với Công an xã Yên Thường, K, Hà Nội làm nhiệm vụ tai khu vực Đình Vỹ, Yên Thường, K, Hà Nội phát hiện V A M điều khiển xe máy BKS 26B2-547.87 chở V A C, đứng canh là Đ T T, sinh năm 1975; HKTT: Số G H, thị trấn I, K, Hà Nội co biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, V A C đã thả trong lòng bàn tay trái xuống dưới đường 04 goi giấy màu trắng, rơi canh vị trí đỗ xe. Tổ công tác đã yêu cầu V A C nhặt các goi giấy để kiểm tra. Đặc điểm 04 goi giấy màu trắng gồm 03 goi giấy co ghi số 20 và 01 goi giấy không ghi số, bên trong đều chứa chất bột màu trắng. V A C khai chất bột màu trắng bên trong 04 goi giấy đều là ma túy Heroin của V A C và V A M mang đi bán kiếm lời. V A C đang định bán cho Thành 02 goi ma túy với giá 400.000 đồng nhưng chưa kịp bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giư tang vật đưa V A C, V A M, Đ T T về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ của V A C:
- 04 goi giấy màu trắng gồm 03 goi giấy co ghi số 20 và 01 goi giấy không ghi số, bên trong đều chứa chất bột màu trắng;
- 01 điện thoai Redmi, màu xanh, bên trong gắn sim 0961290015, đã qua sử dụng.
Vật chứng thu giữ của V A M:
- 01 điện thoai Poco màu đen, bên trong gắn sim 0335086543, đã qua sử dụng;
- 01 xe máy Honda Wave S, màu sơn đen, BKS 26B2-547.87, số khung RLHHC090X7Y906682, số máy HC09E-6729813, không co hai bên yếm xe.
Thu giữ của Đ T T:
- 01 điện thoai Iphone màu vàng đồng, bên trong gắn sim 0562482528, đã qua sử dụng;
- Số tiền 400.000 đồng.
Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành khám xét nơi ở của V A C và V A M nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi pham tội.
Tai Kết luận giám định số 7143/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 goi giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lương: 0,034 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 01 goi giấy màu trắng co ghi số 20 là ma túy loại Heroin, khối lương: 0,054 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 01 goi giấy màu trắng co ghi số 20 là ma túy loại Heroin, khối lương: 0,037 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 01 goi giấy màu trắng co ghi số 20 là ma túy loại Heroin, khối lương: 0,062 gam.
Tai Cơ quan điều tra, bị cáo V A C, bị cáo V A M và đối tượng Đ T T khai nhận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 30/09/2024, V A C đang ở cùng V A M tai phòng trọ tai địa chỉ số L ngách M ngõ N, khu phố H, O, thành phố Tư Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì nhận được điện thoai của Đ T T gọi đến số điện thoai của V A C. Lúc này V A M đang ngồi canh và nghe máy, Đ T T hỏi V A M 400.000 đồng tiền ma túy Heroin, V A M đồng ý. V A C và V A M trao đổi, thống nhất V A M ma túy về để bán kiếm lời. V A C sẽ bỏ tiền V A M ma túy để bán, tiền lời V A C và V A M sẽ dùng để chi tiêu sinh hoat chung. Sau đo, Thành gọi điện thoai cho V A C, V A C đồng ý bán ma túy và hẹn giao dịch tai Đình Vỹ, Yên Thường, K, Hà Nội. V A C một mình điều khiển xe máy BKS 26B2-547.87 đi đến khu vực Tư Sơn, Bắc Ninh để V A M ma túy. Tai khu vực Tư Sơn, Bắc Ninh, V A C co gặp một người đàn ông la mặt và V A M được 01 goi giấy màu trắng chứa ma túy Heroin với giá 500.000 đồng và điều khiển xe máy đi về phòng trọ. Tai phòng trọ, V A C chia goi ma túy vưa V A M được ra thành 04 goi ma túy nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng. V A C dùng bút bi viết số 20 lên 03 goi ma túy với mục đích để ký hiệu nhận biết (03 goi ma túy này sẽ bán với giá 200.000 đồng/01 goi), 01 goi ma túy còn lai không viết gì. Sau đo, V A C bảo V A M điều khiển xe máy chở V A C đi bán ma túy cho Thành tai khu vực Đình Vỹ, Yên Thường, K, Hà Nội. Tai điểm hẹn, V A C và V A M gặp Đ T T, khi đang chuẩn bị bán ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Lời khai nhận tội của các bị can phù hợp với lời khai người liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giư và các tài liệu, chứng cứ khác co trong hồ sơ vụ án.
Đối với Đ T T chưa mua được ma túy của V A C và V A M, qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không co căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho V A C do không xác định được nhân thân, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không co căn cứ để xử lý.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu sơn đen, BKS 26B2-547.87, số khung RLHHC090X7Y906682, số máy HC09E-6729813, quá trình điều tra xác định là tài sản của V A C. Ngày 30/09/2024, V A C và V A M đã sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giư theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoai di động Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng lắp sim liên lac số 0961290015 thu giư của V A C. Quá trình điều tra xác định là tài sản của V A C. Ngày 30/09/2024, V A C đã sử dụng để liên lac với Đ T T thực hiện việc trao đổi V A M bán ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giư theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoai di động POCO màu đen cũ đã qua sử dụng lắp sim liên lac số 0335086543 tam giư của V A M. Quá trình điều tra xác định là điện thoai của V A M sử dụng liên lac hàng ngày, không sử dụng vào việc liên lac V A M bán ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giư theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoai di động Iphone vỏ màu vàng đồng cũ đã qua sử dụng lắp sim liên lac số 0562482528 thu giư của Đ T T. Quá trình điều tra xác định là điện thoai của Đ T T . Ngày 30/09/2024, Đ T T đã sử dụng liên lac thực hiện việc V A M ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giư theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 400.000 đồng tam giư của Đ T T. Quá trình điều tra xác định là tiền của Thành dùng mua ma túy ngày 30/9/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giư theo quy định của pháp luật.
Tai Cơ quan điều tra, V A C và V A M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ co trong hồ sơ vụ án.
Tai bản Cáo trang số 232/CT-VKSGL ngày 25 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo V A C và bị cáo V A M về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tai khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tai phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi pham tội của mình như đã khai tai cơ quan điều tra và Cáo trang đã truy tố. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phat cho các bị cáo.
Đai diện Viện kiểm sát nhân huyện K tham gia phiên tòa luận tội đối với các bị cáo, giư nguyên quyết định truy tố theo Cáo trang; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi pham tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo V A C và bị cáo V A M pham tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phat V A C tư 24 tháng đến 30 tháng tù, thời han tù tính tư ngày 01/10/2024; không áp dụng hình phat bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phat V A M tư 24 tháng đến 30 tháng tù, thời han tù tính tư ngày 01/10/2024; không áp dụng hình phat bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giư của các bị cáo; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu sơn đen, BKS 26B2-547.87, số khung RLHHC090X7Y906682, số máy HC09E-6729813 và 01 chiếc điện thoai di động Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của V A C; 01 chiếc điện thoai di động Iphone vỏ màu vàng đồng cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac và số tiền 400.000 đồng thu giư của Đ T T là phương tiện, tiền bac co liên quan đến hành vi pham tội của các bị cáo; trả lai cho bị cáo V A M: 01 chiếc điện thoai di động POCO màu đen cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac do không liên quan đến hành vi pham tội của các bị cáo.
Người bào chưa cho các bị cáo co quan điểm như sau: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với hành vi pham tội của các bị cáo theo Cáo trang và luận tội của đai diện Viện kiểm sát giư quyền công tố. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt kho khăn nên nhận thức pháp luật còn han chế. Tai các cơ quan tiến hành tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, co thái độ ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phat đến mức thấp nhất cho các bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Sau khi nghe đai diện Viện kiểm sát giư quyền công tố luận tội, các bị cáo, người bào chưa cho các bị cáo không co tranh luận gì. Trong lời noi sau cùng, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi pham pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phat cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã đươc tranh tung tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tai phiên tòa, bị cáo không co ý kiến hoặc khiếu nai về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đo, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vê thủ tuc tố tung: Anh Đ T T là người co quyền lợi, nghia vụ liên quan vắng mặt tai phiên tòa nhưng trước đo đã co lời khai đầy đủ tai Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của anh Thành không gây trở ngai cho việc xét xử. Theo quy định tai khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vân tiến hành xét xử vắng mặt anh Thành.
Vê hành vi phạm tội và tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tai phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tai cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người pham tội quả tang, vật chứng thu giư, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác co trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tai phiên toà, co đủ cơ sở kết luận:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 30/9/2024, tai Đình Vỹ, xã Yên Thường, huyện K, Hà Nội, bị cáo V A C và bị cáo V A M đang co hành vi bán trái phép chất ma tuý Heroine co khối lượng là 0,187 gam cho Đ T T mục đích để kiếm lời thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giư cùng vật chứng. Các bị cáo là người co đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi pham pháp luật, xâm pham chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”; tội pham và hình phat của các bị cáo được quy định tai khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vê hình phạt áp dung đối với bị cáo:
Vê tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi pham tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm pham chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Heroine là chất ma tuý rất độc hai, tàn phá và huỷ hoai sức khoẻ con người, là một trong nhưng nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nan xã hội và các loai tội pham đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong nhưng năm qua, tội pham về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tap, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hai của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nan về ma tuý và tội pham may tuý. Các bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hai của ma tuý nhưng vân tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tao đối với các bị cáo và phòng ngưa chung; gop phần đấu tranh phòng chống tệ nan và các tội pham về ma tuý trong đời sống xã hội.
Vê đồng phạm: Đây là một vụ án hình sự mang tính chất đồng pham giản đơn do hai bị cáo cùng cố ý thực hiện tội pham, trong đo: V A C là người thực hành tích cực; V A M giư vai trò là người giúp sức. Nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đo quy định, song về nguyên tắc mỗi người đồng pham phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi pham tội, nhưng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đo.
Vê nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo là người nghiện ma túy, chưa co tiền án, tiền sự.
Vê tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tai cơ quan điều tra cũng như tai phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, co thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt kho khăn, nhận thức pháp luật còn han chế, pham tội lần đầu. Như vậy, các bị cáo co tình tiết giảm nhẹ quy định tai điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Vê tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không co tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phat tù co thời han để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngưa chung như đề nghị của đai diện Viện kiểm sát nhân huyện K tai phiên toà là phù hợp.
Theo Biên bản bắt người pham tội quả tang (bút lục số 52), thể hiện: Vào hồi 13 giờ 45 phút ngày 30/09/2024, tổ công tác Công an thị trấn I phối hợp với Công an xã Yên Thường làm nhiệm vụ tai khu vực Đình Vỹ, Yên Thường, K, Hà Nội, kiểm tra phát hiện V A C và V A M đang co hành vi bán trái phép chất ma túy. Sau đo, V A C và V A M bị tam giư, tam giam tư đo cho đến nay. Như vậy, thời điểm người pham tội bị bắt quả tang, bị giư để làm việc với Cơ quan Công an là tư ngày 30/09/2024 nên tính thời han tù tư ngày 30/09/2024 đối với các bị cáo là phù hợp với quy định tai Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Điều 111 của Bộ luật Tố tụng hình sự và đảm bảo nguyên tắc áp dụng quy định co lợi cho người pham tội. Do vậy, đề nghị của đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc áp dụng hình phat tù đối với các bị cáo tư ngày 01/10/2024 không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vê hình phạt bổ sung:
Các bị cáo co thể bị áp dụng hình phat bổ sung là phat tiền theo quy định tai khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ co trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tai phiên toà thể hiện: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt kho khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phat bổ sung là phat tiền đối với bị cáo.
Vê xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Đối với số ma túy thu giư của các bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trư, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu sơn đen, BKS 26B2-547.87, số khung RLHHC090X7Y906682, số máy HC09E-6729813 và 01 chiếc điện thoai di động Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của V A C; 01 chiếc điện thoai di động Iphone vỏ màu vàng đồng cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac và số tiền 400.000 đồng thu giư của Đ T T là phương tiện, tiền bac liên quan đến hành vi pham tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoai di động POCO màu đen cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của V A M xác định không liên quan đến hành vi pham tội nên cần trả lai cho bị cáo V A M.
Vê án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã co điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt kho khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tai điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vê quyên kháng cáo: Các bị cáo và người co quyền lợi, nghia vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vê các nội dung khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho V A C, do không xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra không co căn cứ để điều tra xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Đ T T là người V A M ma túy của V A C và V A M để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy, qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Vê tội danh: Tuyên bố bị cáo V A C và bị cáo V A M pham tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Vê hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phat V A C 30 tháng tù, thời han tù tính tư ngày 30/09/2024.
2.2. Không áp dụng hình phat bổ sung bằng tiền đối với bị cáo V A C.
2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phat V A M 27 tháng tù, thời han tù tính tư ngày 30/09/2024.
2.4. Không áp dụng hình phat bổ sung bằng tiền đối với bị cáo V A M.
3. Vê xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
3.1. Tịch thu, tiêu huỷ: Ma túy loai Heroin, khối lượng còn lai là 0,145 gam (đã trư trích mâu để giám định 0,042 gam) thu giư của bị cáo V A C, đựng trong 01 Phong bì niêm phong, bên ngoài co chư ký của V A C, cán bộ Công an thị trấn I Nguyễn Thanh Thức và Giám định viên Trần Ngọc Chinh, do Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội hoàn lai sau giám định;
3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoai di động Redmi cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của V A C;
3.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoai di động Iphone cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của Đ T T;
3.4. Hoàn trả cho bị cáo V A M: 01 chiếc điện thoai di động POCO cũ đã qua sử dụng, bên trong co lắp sim liên lac thu giư của V A M;
Tình trang vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giưa Cơ quan điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K ngày 29/11/2024.
3.5. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 400.000 đồng thu giư của Đ T T;
Số tiền 400.000 đồng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện K đang quản lý theo Biên lai thu tiền số 0004077 ngày 06/12/2024.
4. Vê án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.
Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo V A C.
Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo V A M.
5. Vê quyên kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo co quyền kháng cáo trong han 15 ngày kể tư ngày tuyên án.
Người co quyền lợi, nghia vụ liên quan là anh Đ T T co quyền kháng cáo nhưng vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghia vụ của mình trong han 15 ngày kể tư ngày được tống đat bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã B (thay cho Thông báo kết quả xét xử); - UBND xã E (thay cho Thông báo kết quả xét xử); - Nhưng người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Trọng |